TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2025/DS - ST
Ngày: 27/6/2025
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông (Bà) Đoàn Hồng Hải
- 3/ Ông (Bà) Trần Nguyệt Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 7/2025/DSST ngày 10 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T4 (gọi tắt là Ngân hàng S)
Trụ sở: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản ngân hàng T4 (Công ty S1) (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Ngọc T - Chức vụ Tổng Giám đốc) (Theo Giấy uỷ quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản ngân hàng T4 (Công ty S1) là ông Nguyễn Huy H (theo Giấy uỷ quyền số 7767/2024/UQ-TGĐ ngày 11/11/2024)
Địa chỉ liên lạc: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: 7 T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Huy H trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (gọi tắt là S) và ông Nguyễn Đ thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 26/8/2017, hạn mức tín dụng là 12.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.77%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 701.245.157 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 691.363.002 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đ vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 01/5/2023, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 27/6/2025, ông Đ còn nợ S tổng số tiền là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 14.148.365 đồng, lãi quá hạn là 15.438.363 đồng. Do đó, S khởi kiện yêu cầu ông Đ phải thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/6/2025 là 29.586.728 đồng. Ngoài ra, ông Đ còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn – ông Nguyễn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa làm việc trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên toà sơ thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 13/03/2025. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê xác định số nợ mà ông Nguyễn Đ phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S tính đến ngày xét xử sơ thẩm tính đến ngày 27/6/2025, ông Đ còn nợ S tổng số tiền là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 14.148.365 đồng, lãi quá hạn là 15.438.363 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 14.148.365 đồng với lãi suất quá hạn là 2.77%/tháng nhân với 150%). Ngoài ra, ông Đ còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Đ thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 27/6/2025, ông Đ còn nợ S tổng số tiền là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 14.148.365 đồng, lãi quá hạn là 15.438.363 đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông Nguyễn Đại C phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông Nguyễn Đại C1 theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :
Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (S) khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Đại T1 tiền nợ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Trên hợp đồng thẻ ghi địa chỉ bị đơn tại số G T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện “Đương sự Nguyễn Đại có đăng ký thường trú tại địa chỉ 7 T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Đương sự có khai báo thông tin nơi ở hiện tại tại địa chỉ Nhà trọ Anh T, KP H, Phường A, Thị xã T, Tỉnh Tây Ninh từ tháng 5/2023”. Theo Biên bản xác minh ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì “Đương sự Nguyễn Đại sinh ngày 27/04/1995 không có đăng ký tạm trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ Nhà trọ A T2 (tên gọi cũ tên gọi hiện nay là nhà trọ L, Khu phố H, Phường A, Thị xã T, Tỉnh Tây Ninh, hiện nay đương sự Nguyễn Đại cư T3 và tạm trú ở đâu địa phương không biết” . Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng vay, ông Đ đã cung cấp sổ hộ khẩu thể hiện ông đang cư trú tại địa chỉ số G T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ngân hàng và tại hợp đồng tín dụng ông Đ cũng đã ghi địa chỉ trên vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Như vậy, ông Đ là người đang phải thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thẻ với Ngân hàng S nhưng cung cấp địa chỉ cư trú không đúng hoặc đã chuyển nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng S nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng S có đơn đề ngày 13/03/2025 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Bị đơn là ông Nguyễn Đ đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đ vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
[3.1] Xét ông Nguyễn Đ đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/8/2017, loại thẻ tín dụng quốc tế S Visa, số thẻ: 472074-9396 với Ngân hàng S để vay khoản tiền là 12.000.000 đồng, lãi suất áp dụng cho thẻ Visa là 2.77%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Theo Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng S nộp cho Toà án ngày 26/5/2025, Hội đồng xét xử xác định ông Đ đã bắt đầu sử dụng thẻ từ ngày 31/8/2017. Số tiền ông Đ đã giao dịch là 701.245.157 đồng. Số tiền ông Đ đã thanh toán là 691.363.002 đồng. Khoản tiền trên được thanh toán cho các khoản phí/lãi kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch rút tiền mặt kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch mua hàng hóa kỳ trước và trong kỳ theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Do ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 01/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ tại thời điểm này là 14.148.365 đồng làm nợ gốc, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Việc ông Đ không thanh toán dư nợ thẻ tín dụng hàng tháng cho Ngân hàng S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng S.
Tính đến ngày 27/6/2025 Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Đ phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó bao gồm nợ gốc là 14.148.365 đồng, lãi quá hạn là 15.438.363 đồng. Ông Đ còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Căn cứ vào bảng kê chi tiết giao dịch của khách hàng, bảng tóm tắt sao kê và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có đủ cơ sở để chứng minh ông Đ đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng nêu trên, số tiền ông Đ thực hiện các giao dịch, số tiền đã thanh toán, ông Đ hiện còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 14.148.365 đồng.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Đ trả số nợ gốc trên là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3.2] Về lãi suất: Căn cứ Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần T4 quy định mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng Visa là 2.77%/tháng, lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn.
Căn cứ vào Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S có thể hiện nội dung: «Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông Báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng.....Khi sự kiện vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau :.....- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ. – Áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đ Phát Hành Thẻ»
Xét thấy, mức lãi suất trên do các bên tự nguyện thỏa thuận tại Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất trên có cơ sở để chấp nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Đ trả số nợ lãi quá hạn 15.438.393 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
[3.3] Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Đ đến tòa để trình bày ý kiến. Ông Đ không có mặt tại Tòa án để cho lời khai hoặc nêu ý kiến về các khoản tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán và các khoản phí mà S yêu cầu và vẫn vắng mặt được xem là ông Đ đã từ bỏ quyền trình bày, cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước tòa. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S với số nợ gốc, nợ lãi quá hạn mà Ngân hàng S yêu cầu ông Đ phải trả.
[3.4] Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với khoản nợ của thẻ tín dụng số: 472074-9396 của ông Nguyễn Đ với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 27/6/2025) là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 14.148.365 đồng, lãi quá hạn là 15.438.363 đồng. Ông Đ có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về thời hạn thanh toán: Từ tháng 01 năm 2023, ông Đ đã không thanh toán bất kì khoản tiền nào cho Ngân hàng S, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S. Do vậy, cần buộc ông Đ thanh toán các khoản nợ làm một lần cho Ngân hàng S sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S được chấp nhận nên bị đơn là ông Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng S
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử :
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (gọi tắt là Ngân hàng S):
[1.1] Buộc ông Nguyễn Đ phải trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/6/2025 là 29.586.728 đồng (Hai mươi chín triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 14.148.365 đồng (Mười bốn triệu một trăm bốn mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 15.438.363 đồng (Mười lăm triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn ba trăm sáu mươi ba đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều kiện và Điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 ngày 26/8/2017. Ngoài ra, ông Đ còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 28/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[1.2]. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
[2.1]. Ông Nguyễn Đại C1 án phí dân sự sơ thẩm là 1.479.336 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm ba mươi sáu đồng).
[2.2]. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 số tiền 474.536 đồng (Bốn trăm bảy mươi bốn nghìn năm trăm ba mươi sáu đồng) theo Biên lai thu số 0036033 ngày 04/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 và ông Nguyễn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Trang |
Bản án số 143/2025/DS - ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 143/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T4 (gọi tắt là S) và ông Nguyễn Đ thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) ngày 26/8/2017, hạn mức tín dụng là 12.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.77%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 701.245.157 đồng.
