Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 143/2025/DS-PT

Ngày 16-6-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Hùng

Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 49/2025/TLPT-DS, ngày 28 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST, ngày 21-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện K bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 53/2025/QĐ-PT, ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 62/2025/QĐ-PT, ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn I, sinh năm 1945; cư trú tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; cư trú tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Trần Hoàng Q, là Luật sư của Văn phòng L4 chi nhánh T3 thuộc Đoàn luật sư thành phố C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947 (vắng mặt)
  2. Anh Phạm Văn L1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
  3. Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
  4. Chị Nguyễn Hồng S, sinh năm 1978 (vắng mặt)
  5. Anh Phạm Hoài L2, sinh năm 2000 (vắng mặt)
  6. Anh Phạm Hoài P, sinh năm 2001 (vắng mặt).
  7. Anh Phạm Minh T2, sinh năm 2004 (vắng mặt)
  8. Anh Phạm Hiếu V, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của bà L, anh L1, anh T1, chị S, anh L2, anh P, anh T2 và anh V: Ông Phạm Văn I, sinh năm 1945; cư trú tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 14/4/2024” (vắng mặt).

  1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1961 (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1964 (vắng mặt)
  3. Chị Nguyễn Thị Kim S1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
  4. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (vắng mặt)
  5. Chị Nguyễn Thị Kim L3, sinh năm 1977 (vắng mặt)
  6. Ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  7. Anh Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của ông D, ông R, chị S1, chị H, chị L3, ông E và anh Ú: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; cư trú tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy ngày 06/3/2024” (có mặt).

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Văn I trình bày: Hộ gia đình ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích 3.830m², thửa số 42, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thửa đất của ông không giáp ranh liền kề với thửa đất số 112, diện tích 8.603m², tờ bản đồ số 36, do hộ ông Nguyễn Văn N đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, bà Nguyễn Thị T đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Nhưng trong quá trình sử dụng đất, bà T đã trồng cây ăn trái lấn ranh qua diện tích đất của ông 151,3m². Do hai bên không thỏa thuận được, nên ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T di dời các cây trồng để trả lại diện tích đất 151,3m² cho ông sử dụng. Trường hợp Tòa án giải quyết giao các cây trồng trên diện tích đất cho ông thì ông đồng ý thanh toán giá trị cây trồng và công sức tôn tạo đất cho bà T theo quy định của pháp luật.

Theo bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Diện tích đất 8.603m², thửa số 112, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của cha bà tên cụ Nguyễn Văn N quản lý, sử dụng và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cha bà chết, bà tiếp quản lý, sử dụng theo hiện trạng từ trước đó. Các cây dừa trồng trên diện tích đất mà ông I tranh chấp, có một số cây cha bà đã trồng từ lâu, còn một số cây do bà mới trồng sau này. Vì vậy, bà không đồng ý trả lại diện tích đất theo yêu cầu khởi kiện của ông I. Trường hợp Tòa án xét xử buộc bà giao trả đất tranh chấp cho ông I, thì bà không yêu cầu ông I bồi thường giá trị cây trồng, cũng như công sức cải tạo đất.

Theo những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Bà Nguyễn Thị L, anh Phạm Văn L1, anh Phạm Văn T1, chị Nguyễn Hồng S, anh Phạm Hoài L2, anh Phạm Hoài P, anh Phạm Minh T2 và Phạm Hiếu V đều có văn bản ủy quyền cho ông Phạm Văn I làm đại diện tham gia tố tụng.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: Ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn R, chị Nguyễn Thị Kim S1, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Kim L3 và anh Nguyễn Văn Ú đều có văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T làm đại diện tham gia tố tụng.

Tại bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST, ngày 21-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện K đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164, Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 31 và Điều 235 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn I.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị T trả lại cho ông Phạm Văn I diện tích đất 151,3m², thửa số 42, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có tứ cận và kích như sau:
    • Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa số 42, kích thước 1,3 mét;
    • Hướng Tây giáp đất rạch công cộng (Ký hiệu B), kích thước 1,8 mét;
    • Hướng Nam giáp đường bê tông, kích thước các cạnh lần lượt là 10,1 mét + 9,4 mét + 3,4 mét + 12,4 mét + 12,6 mét + 5,5 mét;
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 42, kích thước các cạnh lần lượt là 17,5 mét + 7,7 mét + 9,5 mét + 9,3 mét + 14,4 mét;

    (Phần Ký hiệu A trên sơ đồ khảo sát thửa đất).

  2. Giao cho ông Phạm Văn I được tiếp tục sử dụng các cây trồng trên diện tích đất tranh chấp, gồm: 13 (Mười ba) cây dừa từ 03 đến dưới 07 năm tuổi; 11 (Mười một) cây dừa từ 01 đến dưới 02 năm tuổi; 05 (Năm) cây cau dưới 01 năm tuổi; 04 (Bốn) cây cau từ 04 năm tuổi trở lên; 04 (Bốn) cây chuối.
  3. Buộc ông Phạm Văn I có nghĩa vụ thanh toán giá trị các cây trồng cho bà Nguyễn Thị T số tiền bằng 12.995.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) và thanh toán công sức giữ gìn, tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị đất cho bà Nguyễn Thị T số tiền bằng 4.902.120 đồng (Bốn triệu chín trăm linh hai nghìn một trăm hai mươi đồng).

Ngoài ra, bản án còn quyết định về nghĩa vụ chịu lãi suất do chậm thi hành án, về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, bị đơn bà Nguyễn Thị T làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn I. Vì diện tích đất này gia đình bà T sử dụng từ xưa cho đến nay.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông I là có một phần không đúng đối tượng sử dụng đất, vì diện tích đất tranh chấp do cụ N (Cha bà T) và bà T trực tiếp quản lý, sử dụng trồng cây ăn trái từ trước cho đến nay. Việc sử dụng đất của cụ N được nhiều người cao tuổi sinh sống ở gần đó xác nhận, trong đó có cả ông I. Trong quá trình cụ N và bà T sử dụng đất thì không ai ngăn cản hay tranh chấp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I.

Quan điểm của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo tư liệu địa chính qua các thời kỳ đều thể hiện, diện tích đất ông I đang quản lý, sử dụng và diện tích đất bà T đang quản lý, sử dụng không liền kề nhau mà cách nhau bởi đường đi. Mặc dù, cụ N và bà T có trồng cây trên diện tích đất tranh chấp, nhưng trồng trên diện tích đất của ông I được công nhận quyền sử dụng hợp pháp. Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I, buộc bà T giao trả đất tranh chấp cho ông I, buộc ông I thanh toán công sức cải tạo đất và thanh toán giá trị cây trồng trên đất cho bà T, là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Nguyên đơn ông Phạm Văn I là người không có kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Theo trích lục bản đồ địa chính tài liệu đo đạc năm 1983, đất của ông I đang quản lý, sử dụng thuộc thửa số 37, diện tích 15.900m², do cụ Phạm Văn D1 đứng tên Sổ mục kê ruộng đất. Đất của bà T đang quản lý, sử dụng thuộc thửa số 56, diện tích 4.750m² và thửa số 57, diện tích 3.950m², do cụ Nguyễn Văn N đứng tên Sổ mục kê ruộng đất. Hình thể diện tích đất thửa số 37 không giáp ranh liền kề với diện tích đất thửa số 56 và diện tích đất thửa số 57. Các thửa đất cách nhau bởi đường lộ đất (BL 129, 133, 135, 136).

[3] Theo trích lục bản đồ địa chính tài liệu đo đạc năm 1992 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông I, thì hình thể diện tích đất 3.830m², thửa số 42 ở hướng Nam tiếp giáp với đường lộ (BL 137, 140). Hình thể diện tích đất 7.690m², thửa số 146 của cụ N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/7/1994 ở hướng Bắc tiếp giáp với đường lộ (BL 134). Như vậy, qua các tài liệu đo đạc năm 1983, năm 1992 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ N năm 1994 (Cấp đổi ngày 02/10/2012); cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông I ngày 07/9/2010, tất cả đều thể hiện thửa đất của ông I và thửa đất của cụ N (Cha bà T) không giáp ranh liền kề nhau mà cách nhau bởi đường lộ.

[4] Thực tế cụ N và bà T trồng các cây dừa trên phần diện tích đất tranh chấp, nhưng diện tích đất tranh chấp do cụ D1 kê khai, đăng ký vào năm 1983; ông I kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm 2010. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I, buộc bà T trả lại diện tích đất 151,3m² cho ông I là có căn cứ. Bà T kháng cáo cầu Tòa án phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I, là không có căn cứ chấp nhận.

[5] Đối với các cây do cụ N và bà T trồng trên diện tích đất của ông I: Khi Tòa án sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, xác định 13 (Mười ba) cây dừa từ 03 năm đến 05 năm tuổi, nhưng bà T cho rằng 13 (Mười ba) cây dừa này do cụ N trồng có độ tuổi trên 30 năm (BL 83). Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/12/2024, bà T trả lời với Tòa án sơ thẩm “Tôi không đặt ra yêu cầu bồi thường công sức tôn tạo đất và các cây trồng trên đất gì cả” (BL 173). Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử tiếp tục hỏi bà T, bà T tiếp tục khẳng định “Tôi hoàn toàn không đặt ra yêu cầu bồi thường gì về công sức cải tạo, gìn giữ đất và giá trị cây trồng trên đất...” (BL 197). Tòa án sơ thẩm vẫn xem xét, giải quyết và buộc ông I thanh toán giá trị các cây trồng cho bà T số tiền bằng 12.995.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) và thanh toán công sức giữ gìn, tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị đất cho bà T số tiền bằng 4.902.120 đồng (Bốn triệu chín trăm linh hai nghìn một trăm hai mươi đồng), là đảm bảo quyền lợi của bà T và đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về công khai, tiếp cận chứng cứ. Bà T yêu cầu Tòa án phúc thẩm tiến hành định giá lại các cây trồng trên đất, là không phù hợp với nội dung kháng cáo của bà T về không đồng ý giao trả đất cho ông I, nên không có cơ sở chấp nhận.

[6] Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, sửa bản án sơ thẩm, là không có căn cứ.

[7] Quan điểm của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ.

[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà T không được Tòa án phúc thẩm chấp nhận, nên buộc bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà T đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0008984, ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST, ngày 21-02-2025 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Trà Vinh.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn I.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị T trả lại cho ông Phạm Văn I diện tích đất 151,3m², thửa số 42, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Có tứ cận và kích như sau:
    • Hướng Đông giáp phần còn lại của thửa số 42, kích thước 1,3 mét;
    • Hướng Tây giáp đất rạch công cộng (Ký hiệu B), kích thước 1,8 mét;
    • Hướng Nam giáp đường bê tông, kích thước các cạnh lần lượt là 10,1 mét + 9,4 mét + 3,4 mét + 12,4 mét + 12,6 mét + 5,5 mét;
    • Hướng Bắc giáp phần còn lại của thửa số 42, kích thước các cạnh lần lượt là 17,5 mét + 7,7 mét + 9,5 mét + 9,3 mét + 14,4 mét;

    (Phần Ký hiệu A trên sơ đồ khảo sát thửa đất).

  2. Giao cho ông Phạm Văn I được quyền quản lý, sử dụng các cây trồng có trên đất tranh chấp, gồm: 13 (Mười ba) cây dừa từ 03 đến dưới 07 năm tuổi; 11 (Mười một) cây dừa từ 01 đến dưới 02 năm tuổi; 05 (Năm) cây cau dưới 01 năm tuổi; 04 (Bốn) cây cau từ 04 năm tuổi trở lên; 04 (Bốn) cây chuối.
  3. Buộc ông Phạm Văn I có nghĩa vụ thanh toán giá trị các cây trồng cho bà Nguyễn Thị T số tiền bằng 12.995.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng) và thanh toán công sức giữ gìn, tu bổ, cải tạo làm tăng giá trị đất cho bà Nguyễn Thị T số tiền bằng 4.902.120 đồng (Bốn triệu chín trăm linh hai nghìn một trăm hai mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  1. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ số tiền bằng 5.345.144 đồng (Năm triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn một trăm bốn mươi bốn đồng), để giao trả lại cho ông Phạm Văn I.
  2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Phạm Văn I.

Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà Nguyễn Thị T đã nộp bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0008984, ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Trà Vinh, nên không phải nộp tiếp.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 143/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Phạm Văn I với Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger