Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập– Tự do– Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/HS-ST

Ngày: 03/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng

Ông Nguyễn Đức Đạt

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trực tuyến trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Văn C ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 24 tháng 12 năm 1982; tại: Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Thón, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Mường ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn S và bà Đinh Thị N (đã chết ); Có vợ là Ngải Thị Hồng X ( đã ly hôn ) và có 01 con sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    *Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 248/2014/HSST ngày 24/9/2014 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015, đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

    Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C: Bà Nguyễn Thị Kim D – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt

  2. Lường Văn Đ ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 03 tháng 03 năm 1988; tại: Yên Bái; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Nang Phai, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn N1 ( đã chết ) và bà Hoàng Thị S1; Có vợ là Lò Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 20105, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lường Văn Đ và Đinh Văn C là thợ xây dựng ở cùng nhau tại lán thợ xây dựng ở LK67, NO 02, khu dịch vụ LK 29-30-31, tổ dân phố T, phường D, quận H, TP . và đều là đối tượng sử dụng ma túy.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Đ và C ngồi chơi ở lán xây dựng thì Đ rủ C góp tiền mua ma túy Heroine về cùng nhau sử dụng, C đồng ý. Đ nói có 80.000 đồng không đủ tiền để mua ma túy H1 nên C đưa cho Đ 200.000 đồng để đi mua ma túy. Chơ và Đ thống nhất mua 200.000 đồng ma túy H1 còn 80.000 đồng để trả tiền nước. Sau đó, Đ, C đi bộ ra quán nước ở khu vực nghĩa trang L, phường L, quận H để tìm mua ma túy nhưng không mua được. Đ bảo C ngồi ở quán nước đợi, Đ đi thuê xe ôm của anh Hoàng Văn M- sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện H, thành phố Hà Nội chở đến khu vực phường T, quận N, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Khi đi đến khu vực đầu ngõ I Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội, Đ xuống xe bảo anh M đợi, Đ đi bộ sang đối diện bên đường gặp và mua của người nam giới không quen biết đang đứng ở vỉa hè 200.000 đồng được 02 gói nilông bên trong chứa chất bột màu trắng. Mua xong, Đoàn cất gói ma túy vào túi quần phía sau bên trái đang mặc rồi anh M điều khiển xe máy chở Đ quay lại quán nước. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đ xuống xe tại khu vực vỉa hè trước nghĩa trang L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội, C đi đến gần và Đ nói “Mua được ma túy Heroine rồi” thì bị tổ công tác Công an phường L phát hiện, bắt quả tang đưa Đ, C về trụ sở để làm rõ (Bút lục 43-48).

Vật chứng đã thu giữ (Bút lục 49):

- 02 (hai) gói ni lông kích thước (1x2) cm bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy và số tiền 80.000 đồng tiền Việt Nam đồng thu giữ của Lường Văn Đ.

Ngày 08/01/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số 248 đối với 02 gói nilông bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy, đã thu giữ nêu trên của Lường Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định số 595/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K- Công an thành phố H, kết luận (Bút lục 58):

“- Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nilông đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng: 0,113 gam

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Lường Văn Đ khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực đầu ngõ I Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội. Quá trình điều tra, ngoài lời khai của Đoàn, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh; khi nào đủ căn cứ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Hoàng Văn M là lái xe ôm được Lường Văn Đ thuê chở đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định: M không biết việc Đ thuê để chở đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Hoàng Văn M.

Trước cơ quan điều tra, Lường Văn Đ, Đinh Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 86/2024/CT-VKS-HĐ ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Đinh Văn C và Lường Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

  • Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Xử phạt: Bị cáo Lường Văn Đ từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

  • Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

  • Về xử lý vật chứng:

  • Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, các mép dán có chữ ký của đối tượng Lường Văn Đ, Đinh Văn C, cán bộ Công an phường L – Nguyễn Tân A và giám định viên Trần Ngọc C1.

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 80.000 đồng.

  • Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn C: Bà Nguyễn Thị Kim D sau khi trình bày lời bào chữa cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội vì bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp; hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.

Bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân quận H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Lường Văn Đ và Đinh Văn C rủ cùng nhau góp tiền để mua ma túy về sử dụng, C đưa cho Đ số tiền 200.000 đồng để Đ đi mua ma túy. Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực vỉa hè trước nghĩa trang L, phường L, quận H, thành phố Hà Nội, khi Đ vừa mua được 02 gói ni lông ma túy loại Heroine, khối lượng 0,113 gam cất giấu trong người về đến nơi gặp C để cùng nhau sử dụng trái phép nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường L kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.

  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, bị cáo C là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo Đ lần đầu phạm tội do đó các bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

  6. Về nhân thân: Bị cáo Đinh Văn C có nhân thân xấu đã có 01 tiền án về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Bị cáo Lường Văn Đ có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự.

  7. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án là đồng phạm giản đơn, các bị cáo rủ nhau góp tiền mua ma tuý về cùng nhau sử dụng, bị cáo C có nhân thân xấu đã có 01 tiền án về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, bị cáo Đ lần đầu phạm tội nên bị cáo C phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

  8. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 của Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  9. Về xử lý vật chứng:

    • Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    • Đối với số tiền 80.000 đồng là tiền các bị cáo góp để mua ma tuý nên cần Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  10. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

  11. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố:

    Bị cáo Đinh Văn C và Lường Văn Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

    Xử phạt: Đinh Văn C 15 ( mười lăm ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

    Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 249 ; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

    Xử phạt: Lường Văn Đ 12 ( mười hai ) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 ; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, các mép dán có chữ ký của đối tượng Lường Văn Đ, Đinh Văn C, cán bộ Công an phường L – Nguyễn Tân A và giám định viên Trần Ngọc C1.

    ( Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 80.000 đồng ( theo uỷ nhiệm chi ngày 30/5/2024 tại kho bạc nhà nước H2 )

  3. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Đinh Văn C và bị cáo Lường Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;

  • - Viện kiểm sát quận Hà Đông;

  • - Thi hành án quận Hà Đông;

  • - Bị cáo;

  • - Trại tạm giam số 2;

  • - Lưu.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 143/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Văn C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger