|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HSST Ngày: 24/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Dậu.
- 2. Ông Đặng Quang Hoạch.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Trần Văn Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 84/2024/HSST ngày 20 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/HSST-QĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Cún A M, sinh năm 1959; tại Bình Thuận; nơi cư trú: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cún Lòi D (Đã chết) và bà Sú Nhì M1 (Đã chết); có chồng tên: Phòng A C, sinh năm 1959 và có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1992); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 27/12/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
2/ Trần Thị Minh T, sinh năm 1961; tại Quảng Ngãi; nơi cư trú: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc N (Đã chết) và bà Nguyễn Ngọc D1 (Đã chết); có chồng tên: Chướng Lỷ N1, sinh năm 1960 và có 05 con (Con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1991); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 27/12/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
3/ Nguyễn Hà Ngọc H, sinh năm 1987 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1948 và bà Hà Thị V, sinh năm 1955; có vợ tên: Lý Cẩm V1, sinh năm 1991 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 24/10/2023 đến ngày 27/12/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
4. Mùng Cóng C1, sinh năm 1953; tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùng L (Đã chết) và bà Tsằn S (Đã chết); có vợ tên: Hà Thị C2, sinh năm 1956 và có 07 con (Con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 27/12/2023 bị cáo được tại ngoại (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 24/12/2023 các đối tượng Mùng C, Nguyễn Hà Ngọc H và Trần Thị Minh T rủ nhau đến nhà Cún A ở ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai để đánh bạc ăn tiền bằng hình thức “chơi cờ Mạt chược”. Múi đồng ý đánh bạc ăn tiền với C1, H và T tại phòng ngủ của M1 và cung cấp 01 bộ cờ mạt chược 136 quân, 02 hột xí ngầu, 01 bàn gỗ mặt đan cước, 04 ghế nhựa và 01 cái rổ kim loại để thu tiền xâu. Cách thức đánh bạc: Người chơi úp 136 quân cờ xuống giữa bàn và xoa đều các quân cờ, lần lượt mỗi người chơi sẽ bốc cho mình 13 quân cờ, người đánh trước được bốc 14 quân cờ và đánh trước 01 quân cờ theo chiều kim đồng hồ, người tiếp theo sẽ ăn quân cờ đó hoặc bỏ qua để bốc 01 quân cờ ở giữa, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi có người chẵn thì sẽ thắng 03 người còn lại mỗi người 30.000 đồng, nếu người chơi tự bốc chẵn (Chì mố) thì thắng 03 người còn lại mỗi người 50.000 đồng và phải bỏ 10.000 đồng tiền xâu vào rổ kim loại. Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện T bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: số tiền 5.200.000 đồng trên chiếu bạc; 10.950.000 đồng trong người các con bạc; 160.000 đồng tiền xâu; 01 bộ cờ mạt chược 136 quân; 01 rổ kim loại; 02 hột xí ngầu; 01 bàn gỗ mặt đan cước; 04 ghế nhựa và 04 điện thoại di động các loại.
Quá trình điều tra xác định: Cún A M sử dụng 2.980.000 đồng để đánh bạc, thua 200.000 đồng, thu giữ 330.000.000 đồng trên chiếu bạc, 2.450.000 đồng trên người, 160.000 đồng tiền xâu và 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus. Trần Thị Minh T mang theo và sử dụng 6.550.000 đồng để đánh bạc, thắng 640.000 đồng, thu giữ 1.690.000 đồng trên chiếu bạc, 5.500.000 đồng trên người và 01 điện thoại di động hiệu Vivo. Nguyễn Hà Ngọc H mang theo và sử dụng 4.720.000 đồng để đánh bạc, thua 800.000 đồng, thu giữ 920.000 đồng trên chiếu bạc, 3.000.000 đồng trên người và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax. Mùng Cóng C1 mang theo và sử dụng 2.060.000 đồng để đánh bạc, thắng 200.000 đồng, thu giữ 2.260.000 đồng trên chiếu bạc và 01 điện thoại di động hiệu Nokia. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 16.310.000 đồng.
Ngày 27/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Cún A, Mùng C, Nguyễn Hà Ngọc H và Trần Thị Minh T để điều tra. Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên
Đối với 04 điện thoại di động các bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.
Tại Cáo trạng số: 88/CT-VKS-TB ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Cún A, Trần Thị Minh T, Nguyễn Hà Ngọc H, Mùng C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Cún A M2 mức án từ 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) đến 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng); xử phạt các bị cáo Trần Thị Minh T, Nguyễn Hà Ngọc H mức án từ 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); xử phạt bị cáo Mùng Cóng C3 mức án từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đến 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Cún A M2, Trần Thị Minh T, Nguyễn Hà Ngọc H, Mùng C đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ dừng lại ở tính chất giản đơn. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo C3 khi phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên và có bằng khen vì đã đóng góp công sức vào cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước nên cần áp dụng điểm o khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình đối với bị cáo.
[4]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5]. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ cờ mạt chược 136 quân; 01 rổ kim loại; 02 hột xí ngầu; 01 bàn gỗ mặt đan cước và 04 ghế nhựa là công cụ các bị cáo sử dụng để phạm tội.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 16.310.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố các bị cáo Cún A, Trần Thị Minh T, Nguyễn Hà Ngọc H phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt:
- + Bị cáo Cún A M2 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).
- + Bị cáo Trần Thị Minh T 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- + Bị cáo Nguyễn Hà Ngọc H 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng).
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- - Tuyên bố bị cáo Mùng Cóng C3 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt: Bị cáo M3 Cóng Chăn 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ cờ mạt chược 136 quân đã qua sử dụng; 01 rổ kim loại đã qua sử dụng; 02 hột xí ngầu đã qua sử dụng; 01 bàn gỗ mặt đan cước đã qua sử dụng và 04 ghế nhựa đã qua sử dụng.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 16.310.000 đồng (Mười sáu triệu ba trăm mười ngàn đồng).
- (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/3/2024 và Biên lai thu tiền số 0003524 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc các bị cáo Cún A, Trần Thị Minh T, Mùng C, Nguyễn Hà Ngọc H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Bá Đức |
Bản án số 143/2024/HSST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 143/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA - HS - Cún A Múi + ĐP - K1 Đ321 - T05-2024
