Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỦ LÝ

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 143/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Sơn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Chí Trung và bà Nguyễn Thị Chương.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2024/TLST-HS ngày 13/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức T, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi cư trú: Xóm 8, xã L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức M (đã chết) và bà Lê Thị Đ; có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/04/1996, Tòa án nhân dân thị xã Hà Nam, tỉnh Nam Hà (nay là thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) xử phạt 03 năm 03 tháng 07 ngày tù về các tội: “Cướp tài sản” và “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/05/2004, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/03/2006, Tòa án nhân dân thị xã Phủ Lý (nay là thành phố Phủ Lý), tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Ngày 27/04/2012, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2018; bị bắt, tạm giữ ngày 19/05/2024, tạm giam từ ngày 25/05/2024 đến nay; có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vũ Quốc P, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
  • - Người làm chứng: Anh Kiều Tiến C, sinh năm 1987; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/05/2024, Vũ Quốc P thuê anh Kiều Tiến C chở xe ôm đi từ đường Quốc lộ 1A thuộc tổ dân phố Hồng Phú, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý đến tổ dân phố Thá, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, P xuống xe bảo anh C đứng đợi rồi đi bộ một đoạn thì gặp Nguyễn Đức T, P bảo T: “Anh lấy giúp em bốn trăm”, hiểu ý P hỏi mua ma túy, T nói: “Đưa tiền đây” thì P lấy ra số tiền 400.000đồng đưa cho T. T cầm tiền đút vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi lấy từ túi quần bên phải ra 01 gói giấy bạc màu vàng định đưa cho P thì bị tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý phát hiện, bắt giữ quả tang.

Vật chứng, tài sản thu giữ của Nguyễn Đức T gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; số tiền 400.000đồng trong túi quần bên trái và số tiền 400.000 đồng trong túi quần bên phải; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức T.

Tại bản Kết luận giám định số 359/KL-KTHS ngày 24/05/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam đã kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, khối lượng: 0,054gam, loại Heroine".

Bản Cáo trạng số 133/CT-VKS-PL ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Đức T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 38, Điều 47 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Đức T từ 42 tháng đến 48 tháng tù.
  • - Hình phạt bổ sung: Phạt tiền Nguyễn Đức T từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Đối với người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên tòa như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng; kết luận giám định về ma túy; lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19/05/2024, tại khu vực tổ dân phố Thá, phường Liêm Chính, thành phố Phủ Lý, Nguyễn Đức T bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,054gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để bán cho Vũ Quốc P với giá 400.000đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

    Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

  4. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
    • 4.1. Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhân thân xấu do đã từng nhiều lần bị kết án phạt tù về các tội: “Trộm cắp tài sản”, “Cướp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích).
    • 4.2. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.
    • 4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt:
    • 5.1. Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động mua, bán, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm. Bị cáo là người đã từng bị kết án về tội phạm ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội do cố ý, thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện và nhân thân xấu của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm.
    • 5.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện tội phạm với mục đích vụ lợi, kiếm lời bất chính. Do vậy, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo bằng hình thức phạt tiền là cần thiết, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
  6. Về tình tiết khác của vụ án:
    • 6.1. Đối với Vũ Quốc P là người đã đưa số tiền 400.000đồng để mua ma túy của Nguyễn Đức T, do Thái chưa kịp đưa ma túy cho P thì đã bị bắt giữ quả tang; mặt khác khối lượng ma túy loại Heroin đã thu giữ dưới 0,1gam; bản thân P chưa bị kết án về tội phạm ma túy, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm liên quan đến ma túy, do đó Cơ quan điều tra xác định hành vi của P chưa đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phong là có căn cứ.
    • 6.2. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Nguyễn Đức T khai đã mua số ma túy này của một người đàn ông khoảng 50 tuổi ở khu vực tổ 5, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an khu vực tiến hành xác minh làm rõ nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, ngoài lời khai của bị cáo ra thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh do đó không đủ cơ sở để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
  7. Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:
    • 7.1. Đối với số tiền 400.000đồng thu giữ của bị cáo, do quá trình điều tra xác định đó là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
    • 7.2. Đối với số tiền 400.000đồng khác, 01 điện thoại di động và 01 căn cước công dân thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp và giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội trong vụ án nên trả lại cho bị cáo.
  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 và khoản 5 Điều 251, các Điều 35, 38, 47, 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 19/05/2024.
  2. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Đức T 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
  3. Xử lý vật chứng:
    • 3.1. Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đồng.
    • 3.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đen, bị vỡ màn hình, có số IMEI1: 869540051126097, số IMEI2: 869540051126089 và số tiền 400.000đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • 3.3. Giao cho Cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền tạm giữ và trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T sau khi chấp hành xong án phạt tù 01 (một) căn cước công dân số: [...] mang tên Nguyễn Đức T.
    • 3.4. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong số 359/KTHS, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01”, mặt sau của phong bì có chữ ký, đóng dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

    Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 14/8/2024; Ủy nhiệm chi số 32, lập ngày 26/8/2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Hà Nam.

  4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thành phố Phủ Lý;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Phủ Lý;
  • - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý;
  • - Người có QL, NVLQ đến vụ án;
  • - Bị cáo Nguyễn Đức T;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 143/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger