|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HS-PT Ngày: 30 - 8- 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Công Hoàn |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Duy Hoài |
| Ông Nguyễn Hữu Hồng |
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 137/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Thành N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 10-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Thành N, sinh năm 1970 tại: Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện Đ, Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn D và bà Hồ Thị T; có vợ Huỳnh Thanh H và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không.
- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: ông Đỗ Văn Đ, sinh năm: 1970 và bà Lưu Thị Kim L, sinh năm: 1970; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. (Ông Đỗ Văn Đ ủy quyền cho bà Lưu Thị Kim L tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 19-8-2004). Bà L có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Thành N và Đỗ Văn Đ là anh em ruột. N với vợ chồng Đỗ Văn Đ và Lưu Thị Kim L có mâu thuẫn với nhau từ trước về việc tranh chấp đất đai.
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20-8-2022, Đỗ Thành N đến nhà vợ chồng ông Đ và bà L tại thôn H, xã T, huyện D. Khi đến nơi không gặp ai ở nhà, Đỗ Thành N nhặt cục đá ở sân nhà ném vào kính xe ô tô biển số: 72L- 1894 làm bể kính; bê chậu cây nhỏ đập bể kính chắn gió phía sau của xe ô tô biển số: 49A-293.31, sau đó N điều khiển xe máy bỏ đi.
Bà Lưu Thị Kim L đang làm vườn gần nhà thấy bị cáo N đập phá đồ đạc xong bỏ đi nên trình báo Công an xã T, huyện D.
Sau khi nhận được tin báo của bà L, Công an xã T gồm đồng chí Ngô Giáp L1 (Công an viên thường trực), chở theo đồng chí Nguyễn Ngọc H1 là công an viên bán chuyên trách điều khiển xe mô tô 49B1 – 001.61 đến nhà ông Đ, bà L; ông Nguyễn Công N1 mặc thường phục đi xe ô tô biển kiểm soát 49A -179.77 là xe cá nhân đến nhà ông Đ và bà L để ghi nhận sự việc.
Lúc này, Đỗ Thành N điều khiển xe mô tô 49B1 – 931.94 đến cây xăng xã T thì gặp Đỗ Thành Đ1 là con của ông Đ và bà L, do biết được bị cáo Đỗ Thành N mới đập phá xe tại nhà bố mẹ của Đ1 là ông Đ và bà L nên Đ1 có chửi Đỗ Thành N.
Đỗ Thành N bị Đỗ Thành Đ1 là cháu ruột chửi nên bực tức đã lấy 01 cây xà bách tại nhà bà P rồi điều khiển xe quay lại nhà ông Đ, bà L. Khi đến nơi N dừng xe ở cổng rồi cầm cây xà bách đi bộ vào trong sân, vừa đi N vừa chửi: “Tụi bay cướp tiền xây nhà đẹp, mua xe mà không lo trả cho người ta”. N dùng cây xà bách đập 01 cái vào kính chắn gió sau của xe ô tô 49A -179.77 của ông Nguyễn Công N1 điều khiển đến đậu gần cổng; đập 02 cái vào yên và 01 cái vào biển số xe máy 49V9 -1344 của gia đình ông Đ; N tiếp tục dùng xà bách đập 01 cái vào đèn chiếu hậu xe ô tô 49A- 293.31; đập bể 01 chậu cảnh. Lúc này có đồng chí Ngô Giáp L1 mặc đồ công an đi ra hướng cổng thì N bỏ chạy ra cổng nhà ông Đ, bà L và dùng cây xà bách đập 01 cái vào chuông cổng, đập 02 hoặc 03 cái vào biển số nhà của ông Đ và bà L, sau đó N vứt cây xà bách ở cổng rồi lên xe mô tô điều khiển chạy về nhà.
Tại cơ quan điều tra Đỗ Thành N đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 719/KL-HĐĐG ngày 06/09/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D đã kết luận giá trị tài sản tại thời điểm tháng 08-2023 như sau: 01 xe ô tô biển số: 49A-179.77, nhãn hiệu Toyota Fortuner bị hư hỏng có giá trị là 13.700.000 đồng, cụ thể: 01 vết rách kim loại bên hông trái phía sau nắp bình xăng kích thước 15x2cm có giá trị là 3.800.000 đồng, 01 kính chắn gió phía sau bị bể vỡ có giá trị là 6.500.000 đồng, 01 đèn lái phía sau bên tài (Đèn ngoài) có giá trị 3.400.000 đồng; 01 xe ô tô biển số: 72L- 1894 nhãn hiệu Thaco bị bể vỡ kính chắn gió phía trước buồng lái có giá trị là 1.900.000 đồng; 01 xe ô tô biển số: 49A- 293.31 nhãn hiệu Suzuki Ertiga bị hư hỏng có giá trị 11.200.000 đồng, cụ thể: 01 cụm đèn chiếu hậu bên trái bị bể có giá trị là 4.000.000 đồng, 01 kính chắn gió phía sau bị bể vỡ có giá trị là 5.000.000 đồng, bị bể vỡ nhựa ở vị trí giữa phía trên đuôi móc sau có giá trị 500.000 đồng, 01 đèn lái phía sau (Đèn trên) có giá trị là 1.700.000 đồng; 01 xe mô tô biển số: 49V-1344 nhãn hiệu Honda, bị rách thùng xăng, 02 vết rách trên yên xe có giá trị là 750.000 đồng; 01 chậu cây cảnh màu xám bằng bê tông, đường kính mặt chậu 55 cm, cao 23cm, dày 1,5cm có giá trị 390.000 đồng; 01 chuông cổng KT 13x7cm có giá trị 220.000 đồng; 01 biển số nhà bằng nhựa KT 15x10cm có giá trị 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 28.260.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 03-01-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Đỗ Thành N về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Bản án Hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 10-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thành N 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17-6-2024 bị cáo Đỗ Thành N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người kháng cáo bị cáo Đỗ Thành N giữ nguyên kháng cáo.
Bị hại liên quan đến kháng cáo bà Lưu Thị Kim L có ý kiến đề nghị giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành N; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ, đủ cơ sở để xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì thêm đối với hành vi, hoạt động tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm; bị cáo khai và thừa nhận diễn biến hành vi như phần nội dung bản án sơ thẩm đã đề cập. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác nên đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20-8-2022 do có mâu thuẫn về tranh chấp đất đai trước đó, tại nhà vợ chồng ông Đỗ Văn Đ và bà Lưu Thị Kim L tại thôn H, xã T, huyện D. Vì bực tức cá nhân, bị cáo đã có hành vi đập phá gây hư hỏng tài sản của vợ chồng ông Đỗ Văn Đ và Lưu Thị Kim L; ông Nguyễn Công N1 có trị giá là 28.260.000 đồng. Bị cáo trưởng thành, đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng bị cáo cố ý thực hiện hành vi đập phá với mong muốn làm hư hỏng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử dụng nên Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về hình phạt và kháng cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng thể hiện sự quyết liệt, coi thường pháp luật. Bởi lẽ, sau khi đập phá tài sản của bị hại, bị cáo đã bỏ đi nhưng sau đó lại tiếp tục quay lại đập phá mặc dù có lực lượng chức năng can ngăn. Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bồi thường khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm
trọng, thành khẩn khai báo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là có căn cứ và đúng quy định. Do đó, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Đối với kháng cáo xin cho hưởng án treo, qua xem xét thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện qua việc chưa có tiền án, tiền sự; nhất thời phạm tội ít nghiêm trọng. Bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; có khả năng tự cải tạo, đủ điều kiện hưởng án treo, việc cho bị cáo cải tạo ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội nên không nhất thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cần tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương, giúp bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội cũng đủ tác dục giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phúc thẩm, không chấp nhận ý kiến của bị hại Lưu Thị Kim L tại phiên tòa phúc thẩm; sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Về các vấn đề khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Thành N; sửa bán án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Đỗ Thành N hưởng án treo.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành N phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thành N 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 30-8-2024)
Giao bị cáo Đỗ Thành N cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo cáo Đỗ Thành N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Công Hoàn |
Bản án số 143/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 143/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo; sửa án sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo
