|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 143/2024/HS-PT Ngày: 20-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Vân.
Các thẩm phán:
- Bà Trần Thị Kim Sang;
- Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thư Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 165/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024. Đối với các bị cáo Lê Văn T, Trần Anh T1, Trần Văn L, Nguyễn Chế L1.
Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chế L1 đối với bản án sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 19-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Chế L1, sinh ngày 23/9/1989, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện nay: Khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Mua bán, sửa chữa điện thoại; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú Q và bà Nguyễn Thị G; có vợ tên Võ Thị Bé T2 và 01 người con; tiền án: không có, tiền sự: không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2
Bị hại:
- Chị Phạm Thị Cẩm T3, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp S, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- Chị Lê Thị Kim T4, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp L, xã L, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- Ông Phạm Văn L2, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- Ông Dương Văn Bé N, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn T, Trần Anh T1 và Trần Văn L đều là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để đem đi bán nên T rủ T1 đi cướp giật điện thoại di động, túi xách và rủ L đi lấy trộm cây mai. Từ ngày 30/12/2023 đến ngày 05/6/2024, T cùng T1 thực hiện 03 vụ cướp giật điện thoại, túi xách trên địa bàn huyện G, T một mình thực hiện 01 vụ trộm cây mai và cùng L thực hiện 01 vụ trộm cây mai trên địa bàn thị xã T, như sau:
Trên địa bàn huyện G: T thống nhất với T1 phương thức, thủ đoạn là T điều khiển xe mô tô biển số 52F4-4610 của T chở T1 đi trên các tuyến đường vắng người qua lại để tìm những người phụ nữ đi đường đang sử dụng điện thoại di động, treo túi xách trên xe thì T điều khiển xe mô tô từ phía sau áp sát để T1 giật điện thoại rồi T nhanh chóng tăng ga tẩu thoát, cụ thể:
Vụ thứ 1:
Khoảng 10 giờ ngày 30/12/2023, T điều khiển xe mô tô biển số 52F4 - 4610 chở T1 trên tỉnh lộ 782 hướng từ xã P, huyện G về phường G, thị xã T, khi đến khu vực thuộc ấp S, xã P, huyện G nhìn thấy chị Phạm Thị Cẩm T3, sinh năm 1990, ngụ ấp S, xã P, huyện G đang điều khiển xe mô tô SH mode, biển số 70F1- 832.73 đi một mình, phía sau túi quần bên trái để 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax, 256 GB, màu Titan. Lúc này, T điều khiển xe áp sát để T1 ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại của chị T3 rồi nhanh chóng tẩu
3
thoát. Sau đó, T và T1 đem điện thoại vừa cướp giật được bán cho Nguyễn Chế L1, L1 định mua với giá 7.000.000 đồng nhưng khi kiểm tra thấy điện thoại bị khóa màn hình, L1 nghi ngờ nguồn gốc do phạm tội mà có nên hỏi T1 điện thoại của ai, T1 nói “mới đi làm được” nên L1 biết điện thoại do phạm tội mà có, L1 ép giá còn 5.000.000 đồng, T và T1 đồng ý bán cho L1. T và T1 chia nhau mỗi người 2.500.000 đồng rồi mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết. Còn L1 sau khi mua điện thoại của T và T1, bán cho người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) được 7.000.000 đồng.
Vụ thứ 2:
Khoảng 18 giờ ngày 17/01/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 52F4 – 4610 chở T1 đi trên các tuyến đường trong Khu Công nghiệp P - B, xã P, huyện G. Khi cả hai đi đến gần cổng Công ty G1 nhìn thấy chị Lê Thị Kim T4, sinh năm 1984, ngụ ấp L, xã L, Huyện D đang đi bộ sát lề đường D11 nghe điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8, màu vàng đồng, T điều khiển xe áp sát người chị T4 để T1 ngồi phía sau giật điện thoại của chị T4 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau đó, T đem điện thoại di động vừa cướp giật bán cho 01 người nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực ngã 3 đèn xanh - đỏ xã B, huyện G được 1.500.000 đồng, T và T1 chia nhau mỗi người 750.000 đồng rồi mua ma túy và tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ 3:
Khoảng 03 giờ ngày 19/01/2024, T tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 52F4 - 4610 chở T1 đi trên tỉnh lộ 784 hướng từ xã B, huyện G đi xã T, Huyện D, khi đi đến khu vực thuộc ấp A, xã B, huyện G thì nhìn thấy bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1965, ngụ ấp T, xã T, Huyện D đang điều khiển xe mô tô biển số 70E1-625.16 đi một mình. Lúc này, T điều khiển xe áp sát để T1 ngồi phía sau dùng tay phải giật túi xách vải của bà P rồi tẩu thoát về hướng thị xã T. T và T1 kiểm tra bên trong túi vải có 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24, màu xanh và số tiền 20.000.000 đồng. T1 chia cho T 9.000.000 đồng còn T1 lấy điện thoại di động và số tiền còn lại. Khoảng 10 ngày sau, T1 đem điện thoại di động cướp giật của bà P bán cho 01 người đi đường (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực cổng Khu Công nghiệp P - Bời Lời được 2.000.000 đồng, T1 tiêu xài cá nhân hết.
Trên địa bàn thị xã T:
Vụ thứ 1:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 27/02/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 70F6-9755 mượn của anh Đỗ Ngọc Phú Q1, sinh năm 1991, ngụ ấp C, xã B, huyện G để đi đến nhà Trần Văn L (là người 03 lần bị kết án nhưng trong đó có 02 lần chưa được xóa án tích) tại ấp T, xã T, Huyện D chơi. Tại đây, T rủ
4
L đi lấy trộm tài sản của người dân đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng L đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 70F6-9755 chở L đi trên tỉnh lộ 782, khi đi ngang nhà anh Phạm Văn L2, sinh năm 1971, ngụ ấp B, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, T nhìn thấy phía trước nhà anh L2 để 01 cây mai vàng có chu vi hoành gốc là 37cm, cao khoảng 1,5m, tán rộng 70cm, không có người trông giữ. T dừng xe lại sau đó T và L cùng nhau đi bộ đến nhổ trộm 01 cây mai rồi lên xe chạy đi tìm nơi tiêu thụ, khi chạy được khoảng 02 km thì bị lực lượng Công an phát hiện mời về trụ sở làm việc và thu giữ cùng vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T thụ lý xác minh làm rõ nguồn gốc cây mai, làm rõ để xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không.
Vụ thứ 2:
Trong khi chờ xử lý vụ việc trên, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, T đi bộ một mình đến khu vực đám sầu riêng của anh Dương Văn Bé N, sinh năm 1980, ngụ ấp T, xã Đ, thị xã T nhìn thấy 01 cây mai vàng có chu vi hoành gốc là 43cm, chiều cao 2m, tán rộng 1,5m của anh N. T lấy 01 cây xẻng, 01 cây rựa và 01 cái liềm của anh N để gần đó, rồi đào lấy trộm cây mai. Sau đó, T sử dụng xe mô tô biển số 52F4-4610 chở cây mai trộm được đi tìm chỗ tiêu thụ, khi đến khu vực ấp G, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an xã B kiểm tra phát hiện bắt giữ và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T giải quyết theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 08 ngày 30/01/2024 và số 42 ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24, màu xanh, ngày 19/01/2024 trị giá 3.700.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8, màu vàng đồng, ngày 17/01/2024 trị giá 5.200.000 đồng.
- 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax, 256 GB, màu Titan, ngày 30/12/2023 trị giá 28.800.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 21B ngày 05/4/2024 và số 35 ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T kết luận:
- 01 cây mai vàng có chu vi hoành gốc là 37cm, cao khoảng 1,5m, tán rộng 70cm, ngày 27/02/2024 trị giá 3.500.000 đồng.
- 01 cây mai vàng có chu vi hoành gốc là 43cm, chiều cao 2m, tán rộng 1,5m, ngày 05/6/2024 trị giá 5.000.000 đồng.
5
Kết quả thu giữ vật chứng: 01 xe mô tô biển số 52F4-4610, màu sơn xám, số máy: VUMYG150FMG 010351; Số khung: VDGDCG0C4DG 000351 đã qua sử dụng của bị cáo T.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại Phạm Văn L2 và Dương Văn Bé N đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Bị hại Phạm Thị Cẩm T3 yêu cầu bồi thường 28.800.000 đồng; bị hại Lê Thị Kim T4 yêu cầu bồi thường 5.200.000 đồng; bị hại Huỳnh Thị P yêu cầu bồi thường 23.700.000 đồng; T và T1 chưa bồi thường.
Về kê biên tài sản: T, T1, L và L1 không có tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 19-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, tuyên xử.
1.1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn T (L3) phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a, c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T (L3) 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn T (L3) 01 (một) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh trên. Buộc bị cáo Lê Văn T (L3) phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.
1.2. Tuyên bố bị cáo Trần Anh T1 (Tuấn Đ) phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ điểm a, c, d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Anh T1 (Tuấn Đ) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/6/2024.
1.3. Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/6/2024.
6
1.4. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chế L1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chế L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào các Điều 584, 589 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Anh T1 cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Phạm Thị Cẩm T3 số tiền 28.800.000 (hai mươi tám triệu tám trăm nghìn) đồng, trong đó mỗi bị cáo bồi thường 14.400.000 (mười bốn triệu bốn trăm nghìn) đồng.
Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Anh T1 cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị Lê Thị Kim T4 số tiền 5.200.000 (năm triệu hai trăm nghìn) đồng, trong đó mỗi bị cáo bồi thường số tiền 2.600.000 (hai triệu sáu trăm nghìn) đồng;
Buộc bị cáo Lê Văn T và bị cáo Trần Anh T1 cùng có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bà Huỳnh Thị P số tiền 23.700.000 (hai mươi ba triệu bảy trăm nghìn) đồng, trong đó mỗi bị cáo bồi thường số tiền 11.850.000 (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng.
Ghi nhận ông Phạm Văn L2 và ông Dương Văn Bé N đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí ngĩa vụ chậm thi hành án quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 23-9-2024, bị cáo Nguyễn Chế L1 có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chế L1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 19-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo Nguyễn Chế L1: Không tranh luận.
7
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo L1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về làm công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23-9-2024, bị cáo Nguyễn Chế L1 có đơn kháng cáo. Qua xem xét đơn về trình tự thủ tục kháng cáo của bị cáo phù hợp với quy định Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
[3] Về tội danh: Lê Văn T, Trần Anh T1 và Trần Văn L là đối tượng nghiện ma túy nên T rủ T1 và L chiếm đoạt tài sản của người khác đem bán để mua ma túy sử dụng, cụ thể:
Từ ngày 20/12/2023 đến ngày 19/01/2024 trên địa bàn huyện G, tỉnh Tây Ninh, Lê Văn T đã câu kết chặt chẽ với Trần Anh T1 để thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản, cụ thể T dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô biển số 52F4 - 4610 chở T1 ngồi phía sau áp sát bị hại giật tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát với tổng trị giá là 57.700.000 đồng, trong đó: cướp giật 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax 256 GB trị giá 28.800.000 đồng của chị Phạm Thị Cẩm T3, cướp giật 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 8 trị giá 5.200.000 đồng của chị Lê Thị Kim T4, cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A24 trị giá 3.700.000 đồng và số tiền 20.000.000 đồng của bà Huỳnh Thị P.
Vào ngày 27/02/2024, trên địa bàn thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn L cùng Lê Văn T có hành vi lấy trộm 01 cây mai vàng trị giá 3.500.000 đồng của anh Phạm Văn L2 thì bị phát hiện thu giữ cùng vật chứng.
Đến ngày 05/6/2024 T một mình tiếp tục lấy trộm 01 cây mai vàng trị giá 5.000.000 đồng của anh Dương Văn Bé N thì bị phát hiện thu giữ cùng vật chứng.
8
Riêng Nguyễn Chế L1 có hành vi mua điện thoại di động Iphone 15 Promax 256 GB trị giá 28.800.000 đồng biết rõ do T và T1 phạm tội mà có.
Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm a, c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự và phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Trần Anh T1 phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm a, c, d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo Trần Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Bị cáo Nguyễn Chế L1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chế L1 biết rỏ điện thoại di động Iphone 15 Promax 256 GB trị giá 28.800.000 đồng do T và T1 phạm tội mà có nhưng gì ham lợi mua 5.000.000 đồng.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy khen trong thời gian công tác ấp đội trưởng ấp H, xã A là tình tiết giảm nhẹ được quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định điểm i, s Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đối với việc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính 2.000.000 (hai triệu) đồng theo bản án sơ thẩm tuyên buộc là nghĩa vụ bị cáo phải nộp không phải là tình tiết giảm nhẹ.
[6] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo. Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 19-9-2024, của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án, bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
9
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Chế L1.
-
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 106/2024/HS-ST ngày 19-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chế L1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chế L1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Chế L1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Vân |
Bản án số 143/2024/HS-PT ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 143/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
