TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 143/2024/HC-ST Ngày: 30-7-2024 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Diệu
Ông Đinh Công Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số 321/2023/TLST-HC ngày 22/11/2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 189/2024/QĐXXST-HC ngày 01/7/2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954;
Địa chỉ: Số D đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Liên H là bà Nguyễn Thị D, đại diện theo ủy quyền.
Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch, UBND huyện Đ, tỉnh Long An là ông Trương Minh H1 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch, UBND huyện Đ, tỉnh Long An là ông Nguyễn Thanh T – Viên chức Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Giao thông vận tải tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Hoàng T1 – Giám đốc.
(bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Thanh T có mặt; ông Trương Minh H1, ông Đặng Hoàng T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 17/7/2023 của người khởi kiện và lời trình bày của đại diện người khỏi kiện trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa có nội dung:
Để thực hiện thu hồi đất đối với Dự án Giải phóng mặt bằng ĐT 823D (Trục mở mới T kết nối Long An với Thành phố Hồ Chí Minh), Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An đã tiến hành thu hồi đất của bà H tại thửa đất số 847, diện tích 202 m², diện tích bị thu hồi 184 m² loại đất ONT, tọa lạc tại ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Đây là phần đất gia tộc bà H khai phá, sở hữu từ trước giải phóng và là tài sản cha mẹ bà H2 để lại cho các con.
Quá trình thực hiện việc thu hồi đất của bà H nêu trên UBND huyện Đ đã không tuân thủ các quy định của pháp luật.
Cụ thể. Tháng 3/2022 xã Đ gửi thông báo về việc thu hồi đất để làm đường tên công trình là "Dự án ĐT 823D" (Trục mở mới T kết nối Long An - thành phố Hồ Chí Minh) do Sở Giao thông vận tải tỉnh L làm Chủ đầu tư trên địa bàn xã Đ. Cùng ngày 21/3/2022 nhân viên Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ xuống đo đạc, kiểm đếm kèm theo cho xem Thông báo thu hồi đất.
Ngày 03/8/2022 Ban Q bảng chiết tính đền bù đồng thời có gởi kèm phiếu phản hồi cho cư dân. Sau đó UBND xã Đ gởi thư mời họp về việc đền bù, giải tỏa nhưng không đề cập đến những gì người dân phản ánh nhất là các phản ánh về giá đền bù, Chính quyền cũng không công khai hồ sơ thẩm định giá, hồ sơ tuyến đường đi như thế nào cho dân được rõ.
Các tài liệu, hồ sơ về giá, thẩm định giá, điều chỉnh hệ số k, dự thảo phương án giá đất, báo cáo thuyết minh xây dựng phương án giá đất, bà H2 không được tiếp cận theo qui định pháp luật. Cụ thể:
Luật đất đai qui định trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin và quyền giám sát của người dân đối với việc cung cấp thông tin đất đai. Điều 28 Luật đất đai 2013 qui định:
- Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai.
- Công bố kịp thời, công khai thông tin thuộc hệ thống thông tin đất đai.
- Thông báo quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai cho tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp.
- Cơ quan quản lý Nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức cá nhân theo quy định của pháp luật.
Luật tiếp cận thông tin bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin trong lĩnh vực thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ, tái định cư. Điểm g khoản 1 điều 17 Luật tiếp cận thông tin qui định “...Thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất... phải được công khai.
Ngày 07/9/2022 UBND huyện Đ ban hành quyết định thu hồi đất kèm theo Bảng chiết tính giá đền bù nhà và đất mà không thỏa thuận với bà H về giá đền bù mà áp giá như trong bảng chiết tính dự kiến.
Việc thu hồi đất của UBND huyện Đ là không phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi. Giá đền bù không thỏa đáng, không theo sát thị trường, tại thời điểm ra quyết định thu hồi thì ít nhất là 45.000.000đ/m².
Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý giải quyết:
Hủy Quyết định số 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Hủy Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H.
Hủy Quyết định số 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Văn bản số 5769/UBND-TA ngày 19 tháng 4 năm 2024 của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An có nội dung như sau:
Sau khi nhận các quyết định, UBND huyện Đ có mời bà Nguyễn Thị Liên H đến UBND xã Đ để hoàn tất thủ tục nhận tiền bồi thường và bàn giao đất cho Nhà nước thực hiện dự án trên. Nhưng bà Nguyễn Thị Liên H không đồng ý nhận tiền và có đơn khiếu nại quyết định hành chính trên đến UBND huyện Đ với nội dung: Yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo giá thực tế ngoài thị trường. Thuộc dự án Đường T (Trục mở mới T kết nối Long An - Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngày 16/6/2023, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7164/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Với nội dung:
Bác đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liên H (người được ủy quyền bà Nguyễn Thị Ánh T2) khiếu nại Quyết định số: 8392/QĐ-UBND ngày 26/12/2022 về việc điều chỉnh nội dung Điều 1 trong Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ. Cụ thể: Yêu cầu bồi thường giá trị quyền sử dụng đất theo giá thực tế ngoài thị trường. Thuộc dự án Đường T (Trục mở mới T kết nối Long An - Thành phố Hồ Chí Minh).
Lý do: Nội dung khiếu nại không có cở sở xem xét giải quyết.
Nay bà Nguyễn Thị Liên H khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An với yêu cầu hủy 04 Quyết định hành chính, gồm: Quyết định của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với ông (bà) Nguyễn Thị Liên H, Quyết định của UBND huyện Đ về bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, Quyết định số: 8392/QĐ-UBND về việc
điều chỉnh nội dung Điều 1 trong Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ, Quyết định của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H.
Đối thoại các nội dung khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H:
Bà Nguyễn Thị Liên H yêu cầu hủy Quyết định số: 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà H cho rằng: UBND huyện Đ đã áp dụng không đúng quy định của pháp luật về thu hồi đất.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H là trái các quy định pháp luật. Cụ thể:
Căn cứ pháp lý Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:
- Tại khoản 11, Điều 3 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai".
- Tại điểm a, khoản 1, Điều 16 có quy định: “Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp... Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”
- Tại điều 62 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
- Tại điểm a, khoản 2, Điều 66 có quy định: “Thẩm quyền thu hồi đất. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư”.
- Tại khoản 4, Điều 67 có quy định: “Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất”.
Bà Nguyễn Thị Liên H yêu cầu hủy Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông (bà) Nguyễn Thị Liên H, với số tiền: 4.106.755.364 đồng và Quyết định số: 8392/QĐ-UBND ngày 26/12/2022 về việc điều chỉnh nội dung Điều 1 trong Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ với số tiền bồi thường được điều chỉnh thành 2.976.237.284 đồng. Đồng thời, yêu cầu bồi thường đất với giá 45 triệu đồng/m². Là không có cơ sở để xem xét, giải quyết. Bởi vì:
Căn cứ Điểm a, khoản 3, Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Về việc quyết định thu hồi đất, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau: “Ủy ban Nhân dân cấp có thẩm quyền quy định tại Điều 66 của Luật này quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong cùng một ngày”.
Khoản 3, Điều 66 Luật Đất đai năm 2013 có quy định: UBND cấp huyện ban hành Quyết định chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trong trường hợp: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Khoản 4, Điều 24 Quyết định số: 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L Về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An, có quy định: “Ủy ban Nhân dân cấp huyện phê duyệt Phương án chi tiết bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng chủ sử dụng nhà đất cụ thể”.
Ủy ban Nhân dân tỉnh L có ban hành Quyết định số: 4619/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của UBND tỉnh L về việc phê đơn giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại giải phóng mặt bằng thuộc dự án Giải phóng mặt bằng ĐT.823D (Trục mở mới T kết nối Long An - Thành phố Hồ Chí Minh) do Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng làm chủ đầu tư qua 04 xã, thị trấn (xã Đ, thị trấn Đ, xã Đ và xã H, huyện Đ, tỉnh Long An) và Quyết định số: 11461/QĐ-UBND Ngày 05/12/2022 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt bổ sung, điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, chính sách hỗ trợ tại Điều 1 Quyết định số: 4619/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của UBND tỉnh L.
Căn cứ pháp lý trên phù hợp với khoản 2, Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 và có quy định: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.
Về giá đất, đã có quy định tại khoản 1, Điều 15 Nghị định số: 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về xác định giá đất, cụ thể như sau: “Căn cứ nguyên tắc định giá đất quy định tại Điều 112 của Luật Đất đai, phương pháp định giá đất quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 của Nghị định này và kết quả tổng hợp, phân tích thông tin về thửa đất, giá đất thị trường, Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể”.
Do đó, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án trên đã áp giá và thẩm định để trình UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với ông (bà) Nguyễn Thị Liên H, với số tiền: 4.106.755.364 đồng và Quyết định số: 8392/QĐ-UBND ngày 26/12/2022 về việc điều chỉnh nội dung Điều 1 trong Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ với số tiền bồi thường được điều chỉnh thành 2.976.237.284 đồng và Quyết định số: 10262/QĐ-UBND ngày 27/12/2023 của UBND huyện Đ về việc hỗ trợ bổ sung chính sách di dời và ổn định đời sống đối với bà Nguyễn Thị Liên H, với số tiền là: 25.512.720 đồng là phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.
Về nội dung khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số: 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của
ông Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 05/12/2022, bà Nguyễn Thị Liên H có đơn khiếu nại Quyết định số 8392/QĐ-UBND ngày 26/12/2022 về việc điều chỉnh nội dung Điều 1 trong Quyết định số: 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ.
Ngày 12/12/2022, UBND huyện có Công văn số 13736/UBND-TCD về việc giải quyết đơn khiếu nại của công dân, có giao Thanh tra huyện kiểm tra nội dung đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liên H, báo cáo đề xuất UBND huyện xem xét giải quyết theo quy định.
Ngày 06/02/2023, UBND huyện ban hành Thông báo số 950/TB-UBND về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H
Ngày 06/02/2023, UBND huyện ban hành Quyết định số 951/TB-UBND về việc giao nhiệm vụ Thanh tra huyện Đ tiến hành xác minh làm rõ nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liên H.
Ngày 27/02/2023, Thanh tra huyện có Báo cáo số: 93/BC-TTr Kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 16/6/2023, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 7164/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H.
Chủ tịch UBND huyện Đ đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại được quy định tại Nghị định số: 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ và thẩm quyền giải quyết khiếu nại đúng theo quy định tại khoản 1, Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011.
Quyết định hành chính trên đã giải quyết các nội dung khiếu nại của bà Nguyễn Thị Liên H theo đúng trình tự quy định và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, nên không có cơ sở pháp lý xem xét chấp nhận.
Về nội dung Nhà nước thu hồi đất trong phạm vi giải phóng mặt bằng của dự án: Trong nội dung khởi kiện, bà Nguyễn Thị Liên H cho rằng dự án có chiều ngang là 40 mét và UBND huyện Đ đã tự ý thu hồi thêm đất thành 80 mét là xâm phạm đến quyền lợi của bà, không đúng theo quy hoạch.
Căn cứ Văn bản của Thủ tướng Chính phủ, các Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh L và các Quyết định của UBND tỉnh L đã nêu phía trên. Thể hiện cấp thẩm quyền đã cho chủ trương phạm vi giải phóng mặt bằng là 80 mét (từ tim thiết kế ra mỗi bên là 40 mét), có cọc giải phóng mặt bằng ngoài hiện trường. Theo đó, UBND huyện Đ đã thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng theo quy định của pháp luật. Nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị Liên H là không phù hợp với chủ trương đang triển khai đối với dự án.
Ủy ban Nhân dân huyện Đ nhận thấy:
Các Quyết định hành chính trên được ban hành theo đúng trình tự quy định và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, như đã nêu trên, nên không có cơ sở để xem xét hủy bỏ.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H không có cơ sở pháp lý xem xét chấp nhận.
Việc khởi kiện vụ án hành chính xuất phát từ việc khiếu nại đơn giá bồi thường quyền sử dụng đất thấp. Tuy nhiên, việc bồi thường và chính sách hỗ trợ đối với bà Nguyễn Thị Liên H đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, nhận thấy Quyết định hành chính của UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành đối với bà Nguyễn Thị Liên H là có căn cứ, có đủ cơ sở pháp lý và thực hiện đúng trình tự quy định của pháp luật, đúng nội dung và đúng thẩm quyền, quyết định hành chính đang có hiệu lực pháp luật nên không có cơ sở để hủy bỏ. Nay bà Nguyễn Thị Liên H yêu cầu hủy Quyết định hành chính do UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện quyền tố tụng. Đề nghị Tòa án bác các yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H, giữ nguyên các Quyết định hành chính của UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định, về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền, Tòa án xác định đúng đối tượng, khi bà H khởi kiện là còn trong thời hiệu nên việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, căn cứ vào phần tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H.
- Hủy Quyết định số 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn
Thị Liên H yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An:
- Hủy Quyết định số 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H.
- Hủy Quyết định số 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là các khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Cùng ngày 18/11/2022 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7860/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H và Quyết định số 7807/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Không đồng ý với các quyết định trên bà H khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Đ. Ngày 16/6/2023 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7164/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 24/7/2023 bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định trên tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là trong thời hiệu theo quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, người bị kiện là Ủy ban nhân dân huyện Đ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt đối với người bị kiện là phù hợp.
[1.4] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo cho các đương sự về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và đối thoại nhưng người bị kiện có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 135, 136 Luật Tố tụng hành chính Tòa án thu thập đầy đủ chứng cứ, không tiến hành đối thoại và đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định: Để thực hiện dự án đường T (Trục mở mới tây bắc kết nối Long An – thành phố Hồ Chí Minh), nên cùng ngày 18/11/2022 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7860/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H và Quyết định số 7807/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Không đồng ý với các quyết định trên bà H khiếu nại đến Chủ tịch UBND huyện Đ. Ngày 16/6/2023 Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7164/QĐ-
UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì thế, UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành các Quyết định trên là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định.
[2.2] Về nội dung của quyết định hành chính:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện:
Trong quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên Tòa hôm nay đại diện bà H cho rằng UBND huyện Đ đã thu hồi đất của bà H và áp giá bồi thường đối với diện tích đất bị thu hồi của bà H quá thấp chưa đúng qui định của pháp luật nên bà H yêu cầu UBND huyện Đ ban hành quyết định bồi thường giá trị quyền sử dụng đất cho bà H theo mức giá 45.000.000đ/m². Xét yêu cầu của đương sự thấy rằng:
Đối với yêu cầu hủy Quyết định 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, xét thấy:
Tại khoản 11, Điều 3 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.
Tại điểm a, khoản 1, Điều 16 có quy định: “Nhà nước quyết định thu hồi đất trong các trường hợp... Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
Tại Điều 62 có quy định: “Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
Tại điểm a, khoản 2, Điều 66 có quy định: “Thẩm quyền thu hồi đất. Ủy ban Nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư”
Tại khoản 4, Điều 67 có quy định: “Thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Khi quyết định thu hồi đất có hiệu lực thi hành và phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt được công bố công khai, người có đất thu hồi phải chấp hành quyết định thu hồi đất”.
Căn cứ vào các qui định trên, ngày 18/11/2023 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7807/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Đối với yêu cầu Hủy Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, xét thấy:
Tại khoản 2 điều 74 Luật đất đai năm 2013 có quy định:
Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm Quyết định thu hồi đất.
Tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ qui định về xác định giá đất cụ thể như sau:
Căn cứ nguyên tắc định giá đất qui định tại điều 112 của Luật đất đai, phương pháp định giá đất qui định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 điều 4 của Nghị định này và kết quả tổng hợp phân tích thông tin về thửa đất, giá đất thị trường, Ủy ban nhân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể.
Căn cứ vào các qui định trên UBND tỉnh L ban hành các quyết định: Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An; Quyết định số 4619/QĐ- UBND ngày 24/5/2022 về việc phê duyệt đơn giá bồi thường, hỗ trợ thiệt hại giải phóng mặt bằng thuộc dự án giải phóng mặt bằng đường tỉnh 823D (Trục mở mới tây bắc kết nối Long An - thành phố Hồ Chí Minh); Quyết định số 11461/QĐ-UBND ngày 05/12/2022 của UBND tỉnh L về việc phê duyệt bổ sung, điều chỉnh hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường, chính sách hỗ trợ tại Điều 1 Quyết định số 4619/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của UBND tỉnh L.
Căn cứ vào các Quyết định trên của UBND tỉnh L, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 3512/QĐ-UBND ngày 22/8/2022 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án giải phóng mặt bằng đường tỉnh 823D (Trục mở mới tây bắc kết nối Long An - thành phố Hồ Chí Minh) qua xã Đ, thị trấn Đ, xã Đ và xã H, huyện Đ, tỉnh Long An và căn cứ vào Quyết định 3512/QĐ-UBND ngày 05/12/2022, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, với số tiền: 4.106.755.364đ.
Qua phân tích trên, có cơ sở xác định UBND huyện Đ ban hành các quyết định về thu hồi và bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất đối với bà H là đúng qui định của pháp luật.
Từ đó có cơ sở xác định Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H là đúng qui định pháp luật.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà H yêu cầu hủy các Quyết định trên là không có căn cứ nên không được chấp nhận như quan điểm đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên Tòa.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Liên H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.600.000đồng, bà H đã nộp xong.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Liên H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm nhưng do bà H là người cao tuổi đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên bà H được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm
Ủy ban nhân dân huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn các Điều 3, 16, 62, 66, 67 và 74 Luật Đất đai 2013;
Căn cứ khoản 1 Điều 15 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ qui định về xác định giá đất.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Liên H đối với các yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 7807/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H, đất tọa lạc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Hủy Quyết định số 7860/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND huyện Đ về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Nguyễn Thị Liên H.
- Hủy Quyết định số 7164/QĐ-UBND ngày 16/6/2023 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Thị Liên H, sinh năm 1954; Địa chỉ: số D, Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Liên H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.600.000đồng, bà H đã nộp xong.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Liên H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm nhưng do bà H là người cao tuổi đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên bà H được miễn nộp tiền án phí hành chính sơ thẩm
Ủy ban nhân dân huyện Đ, Chủ tịch UBND huyện Đ không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phước Thanh |
Bản án số 143/2024/HC-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 143/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Liên H "KKQĐHC" UBND huyện Đ
