Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 143/2024/DS-PT

Ngày 21-8-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

và tài sản gắn liền với đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đê

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Ái Loan

Bà Ngô Thị Kim Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Trà Vinh vụ án thụ lý số 130/2024/TLPT-DS, ngày 11 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST, ngày 29-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện K bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 80/2024/QĐ-PT, ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1951; cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 09/11/2022” (có mặt).

- Bị đơn: Chị Thạch Thị H, sinh năm 1978; cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974 (có mặt)
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Hoài T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  4. Chị Nguyễn Thị Bé T2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  5. Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện hợp pháp của anh T1, chị T2 và chị Á: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh “Theo văn bản ủy quyền ngày 06/11/2023” (có mặt).

  1. Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1982; cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
  2. Anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 1995; cư trú tại ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị N là nguyên đơn.

Ngoài ra, còn có bà Nguyễn Thị Kim T3, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 8 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 31 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn bà Huỳnh Thị N và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, anh Nguyễn Văn C trình bày: Bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 09, diện 484,2m² và thửa số 10, diện tích 771m², tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Giáp ranh liền kề với diện tích đất của bà N là diện tích đất 1.190m², thửa số 1769, do chị Thạch Thị H nhận chuyển nhượng từ anh Nguyễn Nhật M. Trong quá trình sử dụng đất, chị H cặm trụ đá và làm hàng rào lưới B40 lấn sang qua diện tích đất của bà N là 11,8m². Vì vậy, bà N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị H tháo dỡ trụ đá và hàng rào lưới B40 để giao trả diện tích đất cho bà N sử dụng.

Theo bị đơn chị Thạch Thị H trình bày: Diện tích đất 1.190m², thửa số 1769, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, do chị nhận chuyển nhượng từ anh Nguyễn Nhật M nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Khi nhận chuyển nhượng đất, chủ đất cũ chỉ ranh đất ngay chính giữa đường Đanl nên chị mới cặm trụ đá cặp sát đường Đanl, chị không có cặm trụ đá và làm hàng rào lấn qua diện tích đất của bà N, nên chị không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà N.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn C: Thống nhất theo nội dung yêu cầu khởi kiện của bà N.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N1: Thống nhất theo ý kiến của chị H, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà N.

Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Nhật M trình bày: Diện tích đất 1.190m², thửa số 1769, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, là của cha mẹ anh (Ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T4) nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn L. Sau khi cha anh chết, mẹ anh làm thủ tục thừa kế và đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến khoảng đầu năm 2020, mẹ anh chuyển nhượng diện tích đất này cho chị H với số tiền bằng 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Đến tháng 9 năm 2020, mẹ anh chết. Sau đó, anh làm thủ tục nhận thừa kế và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đổi thành thửa số 01, diện tích 1.146,6m². Khi anh chuẩn bị làm thủ tục hợp thức hóa việc chuyển nhượng đất cho chị H, thì anh C là con của bà N ngăn cản. Nay, anh đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp giữa bà N với chị H theo quy định của pháp luật. Sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án, anh tiếp tục làm thủ tục sang tên cho chị H.

Tại bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST, ngày 29-3-2024 của Toà án nhân dân huyện K đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 và 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 175 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N về việc tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất với chị Thạch Thị H.
  2. Chị Thạch Thị H được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp, diện tích 11,7m² (Phần ký hiệu A), nằm trong diện tích 1.146,6m², thửa số 01, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Đất có vị trí, tứ cận như sau:
    • - Hướng Đông giáp thửa số 01, kích thước 33,80m;
    • - Hướng Tây giáp đường bê tông, kích thước 33,74m;
    • - Hướng Nam giáp thửa số 01, kích thước 00m;
    • - Hướng Bắc giáp thửa số 94, kích thước 0,70m.
    • (Có sơ đồ kèm theo).
  3. Chị Thạch Thị H được tiếp tục quản lý, sử dụng hàng rào lưới B40, trụ đá, có diện tích (02m x 02m) + (3,8m x 1,2m) = 8,56m² trên phần đất có ký hiệu A.
  4. Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại 26 cây dừa, với số tiền bằng 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) của bà Huỳnh Thị N.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị N làm đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử công nhận cho bà N được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp 11,7m² (Phần ký hiệu A) và không buộc bà N chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản bằng 6.625.424 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng).

Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Theo hình thể diện tích đất của bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ở hướng Bắc tiếp giáp với đường bê tông, không tiếp giáp với diện tích đất chị H nhận chuyển nhượng của bà T4, nên Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N và buộc bà N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản, là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm còn tuyên chị H được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp, là không cần thiết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và đơn kháng cáo của nguyên đơn; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Qua các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử thấy rằng:

  1. [1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Nhật M vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm, nhưng anh T và anh M không có liên quan đến nội dung kháng cáo của bà N nên Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án vắng mặt anh T và anh M.
  2. [2] Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Hình thể diện tích đất của bà Huỳnh Thị N in trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 09, diện tích 484,2m² và thửa số 10, diện tích 771m², tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, tiếp giáp với đường bê tông, không giáp ranh giới liền kề với diện tích đất 1.146,6m², thửa số 01 do chị Thạch Thị H đang quản lý, sử dụng (BL 06, 07, 08, 09). Khi làm đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bà N và anh C là người đại diện hợp pháp của bà N không cung cấp được tài liệu, giấy tờ để chứng minh diện tích đất của bà N còn một phần giáp ranh giới với diện tích đất chị H đang quản lý, sử dụng.
  3. [3] Diện tích đất chị H đang quản lý, sử dụng do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn S vào ngày 02/4/2007, thửa số 1769, diện tích 1.190m². Sau khi ông S chết, bà T4 (Vợ ông S) làm thủ tục nhận thừa kế đất từ ông S, diện tích đất 1.190m² (BL 22). Sau khi bà T4 chết, anh M làm thủ tục nhận thừa kế đất từ bà T4 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Trà Vinh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh M ngày 03/6/2021, thửa số 01, diện tích 1.146,6m². Hình thể diện tích đất in trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiếp giáp đường bê tông, không giáp ranh liền kề với diện tích đất của bà N thuộc thửa số 09 và thửa số 10 (BL 23).
  4. [4] Theo lời khai của anh M, mẹ của anh M (Bà T4) thỏa thuận chuyển nhượng đất cho chị H là chuyển nhượng toàn bộ thửa đất và tại thời điểm gia đình anh M còn sử dụng đất thì bà N và gia đình của bà N không có ai ngăn cản hay tranh chấp (BL 138, 139). Theo sơ đồ khảo sát hiện trạng khu đất so với tài liệu năm 2006, thể hiện: Ranh giới giữa thửa đất số 09 và số 10 của bà N với thửa đất số 01 do chị H nhận chuyển nhượng từ bà T4 và đang trực tiếp quản lý, sử dụng, không liền kề mà cách nhau bởi đường bê tông; diện tích đất tranh chấp 11,7m² (Ký hiệu A) thuộc thửa số 01 do chị H đang trực tiếp quản lý, sử dụng (BL 81, 225).
  5. [5] Qua đối chiếu hình thể diện tích đất thửa số 09 và thửa số 10 của bà N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hình thể diện tích đất thửa 01 của anh M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, so sánh với hiện trạng thực tế diện tích đất của bà N đang sử dụng và hiện trạng thực tế diện tích đất của chị H đang sử dụng, cho thấy: Bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị H giao trả cho bà N diện tích đất 11,7m², là không có cơ sở. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, là có căn cứ. Bà N kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử công nhận cho bà N được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp 11,7m² (Ký hiệu A), là không có căn cứ.
  6. [6] Ngoài ra, bà N còn kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xét xử không buộc bà N chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản bằng 6.625.424 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng), cũng không có căn cứ. Bởi lẽ, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, anh C là người đại diện hợp pháp của bà N làm đơn yêu cầu Tòa án sơ thẩm ra quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”; khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Tòa án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, nên Tòa án sơ thẩm buộc bà N chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản số tiền bằng 6.625.424 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng), là đúng quy định của pháp luật.
  7. [7] Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm quyết định cho chị H được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 11,7m² (Ký hiệu A), là không đúng. Vì, diện tích đất thửa số 01 anh M còn đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên khi bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị H diện tích đất tranh chấp 11,7m² theo quyết định của Tòa án, sẽ vướng mắc và không thực hiện được. Mặt khác, trường hợp anh M và chị H không thỏa thuận được với nhau về việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, có phát sinh tranh chấp và một trong hai bên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó, Tòa án thụ lý và giải quyết buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đều phải xem xét, giải quyết toàn bộ thửa đất, trong đó có diện tích đất 11,7m² bà N tranh chấp với chị H, đã được Tòa án xét xử trong vụ án này.
  8. [8] Xét thấy, sai sót của Tòa án sơ thẩm là sai sót về cách tuyên án trong phần quyết định của bản án, không làm thay đổi nội dung giải quyết vụ án. Sai sót này, Tòa án phúc thẩm sửa chữa, bổ sung được. Vì vậy, sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án trong phần quyết định của bản án theo hướng không giao chị H được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp 11,7m² và hàng rào trụ đá, lưới B40 có trên diện tích đất 11,7m². Chị H với anh M tự thỏa thuận với nhau về việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nếu có phát sinh tranh chấp, một trong hai bên có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  9. [9] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N, sửa bản án sơ thẩm, là có căn cứ.
  10. [10] Về án phí: Do bà N là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà N có làm đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và được Tòa án sơ thẩm chấp nhận cho bà N miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên Tòa án phúc thẩm không xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thị N.

Sửa bản án sơ thẩm số 11/2024/DS-ST, ngày 29-3-2024 của Toà án nhân dân huyện K.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị N về việc yêu cầu chị Thạch Thị H di dời trụ đá và hàng rào lưới B40, để giao trả diện tích đất 11,7m² cho bà Huỳnh Thị N.
  2. Chị Thạch Thị H với anh Nguyễn Nhật M tự thỏa thuận với nhau về việc thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Nếu có phát sinh tranh chấp, một trong hai bên có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Buộc bà Huỳnh Thị N phải chịu toàn bộ số tiền bằng 6.625.424 đồng (Sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng). Bà Huỳnh Thị N đã nộp xong, nên không phải nộp tiếp.
  4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Huỳnh Thị N.

Bà Huỳnh Thị N được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên Tòa án phúc thẩm không xử lý.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện K;
  • - Chi cục THADS huyện K;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Đê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 143/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Huỳnh Thị N với Thạch Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger