Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2024/DS-PT

Ngày 09-12 -2024

V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trường Du

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Ông Vũ Đại Long

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Mai Thị X - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 85/2024/TLPT-DS ngày 08/10/2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐ-PT ngày 31/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 98/2024/QĐ-PT ngày 12/11/2024 ; Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án Dân sự số 37/2024/TB-TA ngày 22/11/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị H – sinh năm 1960. ( có mặt)

HKTT: B9TT Nhà máy gỗ, tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: SN D T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Minh T – Luật sư Văn phòng L – Thuộc Đoàn luật sư thành phố H. ( Có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Ngọc B – sinh năm 1960.

Địa chỉ: Số A, ngõ D, tổ A đường N, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.( Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Vũ Q - sinh năm 1972. ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, ngõ C đường P, phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

* Do có kháng cáo của bị đơn ông Phạm Ngọc B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Cao Thị H trình bày: Ngày 19/3/2001 bà có mua diện tích đất 78m² tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có địa chỉ lô 46 MBQH số 16 XD/UBTH nay là SN 42 T, phường Đ, thành phố T với giá 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) của Công ty K. Năm 2002 bà có làm 01 ngôi nhà 2 tầng kết cấu bê tông, cốt thép với diện tích xây dựng là 155m². Nguyên tiền để xây dựng căn nhà là do bà vay ngân hàng và ngày 08/3/2007 bà kết hôn với ông Phạm Ngọc C. Sau kết hôn, bà tự nguyện làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất nêu trên và đưa tên Ông Phạm Ngọc C đứng tên chung với bà tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T cấp ngày 09/10/2007. Trong quá trình chung sống, giữa bà và ông C không có con chung. Ông Phạm Ngọc C chỉ có 02 người con riêng là ông Phạm Ngọc B, sinh năm 1960 và ông Phạm Vũ Q, sinh năm 1972.

Ngày 21/10/2014, ông Phạm Ngọc C mất, không để lại di chúc. Các di sản của ông C để lại dành cho các con ông C (đã phân chia di sản xong không có ai có ý kiến gì). Riêng thửa đất và nhà nêu trên bà đang sinh sống từ lúc mua cho tới nay, nên bà có nguyện vọng được nhận thửa đất về cho riêng mình để ở lúc tuổi già và cải tạo, sửa sang lại nhà cho con cháu có nơi ăn ở lúc về thăm bà.

Bà đã thể hiện nguyện vọng này với các ông B và ông Q. Tuy nhiên, B không đồng ý.

Nay bà khởi kiện đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C để lại chia cho các hàng thừa kế. Cụ thể là: Nhà và đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 có địa chỉ lô 46 MBQH số 16 XD/UBTH nay là SN 42 T, phường Đ, thành phố T, phần tài sản của bà là ½ giá trị tài sản, ½ giá trị tài sản là của ông C chia cho 03 phần, bà được 01 phần và mỗi người con mỗi người một phần. Ngoài ra bà đề nghị Tòa án xem xét công sức đóng góp và bảo quản di sản thừa kế cho bà theo quy định của pháp luật.

- Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn ông Phạm Ngọc B trình bày: Bố ông là ông Phạm Ngọc C, sinh năm 1934, năm 2007 bố ông kết hôn với bà Cao Thị H. Năm 2014 ông C chết không để lại di chúc. Ông được biết giữa ông C và bà H có khối tài sản chung gồm: Nhà và đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 tại địa chỉ lô 46 MBQH số 16 XD/UBTH nay là SN 42 T, phường Đ, thành phố T đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố cấp ngày 09/10/2007. Giữa bố ông và bà H không có con chung, bố ông chỉ có 02 người con đẻ là ông và em trai ông là Phạm Vũ Q. Bố ông không có con nuôi, bố mẹ nuôi và ông bà đẻ ra bố ông đều đã chết.

Nay bà H làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của bố ông (sau khi công nhận ½ số tài sản trên là của bà H , ½ còn lại là của bố ông) ông đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật và đề nghị Tòa án căn cứ theo giá thị trường để giải quyết vụ án. Do bà H đang sinh sống trên di sản thừa kế nên ông có

2

nguyện vọng được lấy tiền đối với kỷ phần thừa kế mà ông được hưởng theo quy định của pháp luật.

- Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Vũ Q trình bày:

Ông là con trai (con ruột) của ông Phạm Ngọc C (Sinh năm: 1934 - Hộ khẩu thường trú tại: Tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội); Bố tôi (Phạm Ngọc C) đã chết ngày 21/10/2014 (theo giấy chứng tử số 93, quyên số 01/2014 do UBND phường Đ, quận L, TP . cấp ngày 27/10/2014). Lúc còn sống, bố ông có đăng ký kết hôn với bà Cao Thị H vào ngày 08/3/2007. Ông được biết, trước khi kết hôn với bố ông, bà Cao Thị H có mua một thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 78m2, địa chỉ thửa đất tại: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa với số tiền: 48.000.000 đồng (Bốn mươi tám triệu đồng) của Công ty K1.

Sau kết hôn, bà Cao Thị H có nhờ bố ông đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất nêu trên; Bà H đã để bố ông cùng đứng tên chung với bà Cao Thị H trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T cấp ngày 09/10/2007.

Nay bố ông đã mất, bố ông và bà H không có con chung. Bố ông có hai người con là ông (Phạm Vũ Q) và anh trai ông (Phạm Ngọc B - SN:1960. Bố ông không có con nuôi, bố mẹ nuôi. Ông bà đẻ ra bố ông đều đã chết.

Ông nhận thấy thửa đất có nguồn gốc do bà H mua, thời gian chung sống bà H đã có công chăm sóc cho bố ông lúc ốm đau. Đồng thời, Bà H đã làm nhà và hiện đang ở trên thửa đất này, bà mong muốn có nơi ở dưỡng già và cho con cháu về chơi nên ông quyết định tặng cho toàn bộ kỷ phần mà ông được hưởng từ bố ông (ông Phạm Ngọc C) cho bà Cao Thị H. Ngày 03/06/2023, ông đã làm văn bản tặng cho kỷ phần thừa kế cho bà H (Bà H đã nộp cho Tòa án).

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 23/01/2023 tài sản được xác định như sau: Tài sản thẩm định giá là nhà và đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00 tại lô 46 MBQH số 16 XD/UBTH nay là SN 42 T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dung đất số AK379415 do UBND thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 09/10/2007 mang tên ông Phạm Ngọc C và bà Cao Thị H có diện tích 78m² có tứ cận:

  • Phía đông: giáp nhà bà T1
  • Phía tây: giáp hộ nhà ông H1
  • Phía nam: giáp đường T
  • Phía bắc: giáp lô 19 MBQH 16/UBTH

Các hộ gia đình giáp ranh với thửa đất đang sử dụng không có tranh chấp. Về tài sản trên đất gồm có:

  • + 01 căn nhà 02 tầng, 01 tum có tôn chống nóng. Diện tích tầng 1, tầng 2 là 65m2/tầng. Tum là 12 m2, tôn chống nóng là 28m2. Kết cấu nhà bê tông cốt thép,

3

tường xây gạch chỉ 110 kết hợp 220, nền lát gạch liên doanh, trát vữa, lăn sơn các màu, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 2001.

2. Về giá trị là đất và tài sản gắn liền với đất: Giá trị đất tại nơi tranh chấp với diện tích 78m2 áp theo khung giá đất của Nhà nước là 8.000.000đ/m2 = 624.000.000 đồng.

Áp theo giá thị trường khu vực đang giao dịch là 25.000.000 đ/m2 = 1.950.000đồng.

Về giá trị tài sản trên đất: Diện tích xây dựng bê tông cốt thép 143,2m2 x 4.373.000/m2 = 626.213.600 đồng. Nhà xây dựng từ năm 2002 đến nay giá trị còn lại và sử dụng là 20%, giá trị sau khi khấu hao là 626.213.600 đồng x 20% = 125.242.720 đồng.

Diện tích lợp tôn là 28m2 x 347.000 đồng = 9.716.000 đồng. Giá trị còn lại sau khấu hao là 9.716.000 đồng x 20% = 1.943.000 đồng.

Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án căn cứ vào giá trị trường để giải quyết vụ án.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá đã quyết định:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 271; 273 BLTTDS; Điều 612, khoản 1 Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, 660 Bộ luật dân sự; Điều 33, 46, 66 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị H.

Xác định phần tài sản của bà Cao Thị H và di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C bằng nhau và đều bằng 39m² đất tương đương 975.000.000 đồng, tài sản trên đất trị giá ½ ngôi nhà 02 tầng bê tông cốt thép, tường xây gạch 110 kết hợp 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 2002, giá trị tài sản gắn liền với đất là 63.592.960 đồng. Giá trị tổng tài sản của bà H, di sản thừa kế của ông C đều bằng 1.038.592.960 đồng.

Phần tài sản của bà H và di sản thừa kế của ông C đều tọa tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 78m², có địa chỉ: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T).

Bà H được trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế bằng 01 kỷ phần trị giá 346.197.653 đồng.

Chia di sản còn lại của ông Phạm Ngọc C cho bà Cao Thị H, ông Phạm Ngọc B và ông Phạm Vũ Q mỗi người được thừa kế 01 kỷ phần bằng 230.798.436 đồng và được giao cụ thể như sau:

Giao cho bà Cao Thị H quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ thửa đất tại: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T); giấy chứng nhận quyền sử dung đất số Giấy chứng nhận quyền sử

4

dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T câp ngày 09/10/2007 mang tên bà Cao Thị H và ông Phạm Ngọc C. Bà H có quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở theo quy định khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Cao Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Ngọc B số tiền 230.798.436 đồng là kỷ phần ông B được hưởng theo di sản.

Công nhận sự tự nguyện của ông Phạm Vũ Quang T2 cho kỷ phần thừa kế được hưởng là 230.798.436 đồng cho bà Cao Thị H.

- Án sơ thẩm còn quyết định về chi phí định giá tài sản, xem xét thẩm định, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Sau khi xét xử sơ thẩm ông Phạm Ngọc B là bị đơn có kháng cáo như sau:

Sửa bản án sơ thẩm:

  1. Sửa lỗi sai trong bản án (ngày mua đất là ngày 19/3/2001 chứ không phải ngày 19/3/2021 và ông Phạm Ngọc B (con trai), chứ không phải ông Phạm Ngọc C (con trai))
  2. Không đồng ý với việc trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản cho bà H là 346.197.653 đồng và đề nghị Tòa cấp phúc thẩm tính toán chi tiết Cụ thể những việc tu bổ tôn tạo và bảo quản di sản thừa kế của nguyên đơn thực tế đã có công sức đóng góp.
  3. Xác minh tính chân thực lời khai của nguyên đơn đã trình bày trong đơn khởi kiện

Tại phiên toà phúc thẩm:

Ngày 25/11/2024 Toà án nhân dân tỉnh Thah Hoá nhận được đơn Xin xét xử vắng mặt của ông Phạm Ngọc B gửi theo đường Bưu điện. Nội dung đơn ông B xin vắng mặt và giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Toà án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, ngoài ra không có thêm tài liệu chứng cứ nào.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:

  • + Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Thư ký đều tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • + Xét kháng cáo của đương sự: Ông Phạm Ngọc B có đơn xin xét xử vắng mặt và không rút đơn kháng cáo, nên được xem xét theo trình tụ phúc thẩm.

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Cao Thị H; xác định phần tài sản của bà Cao Thị H và di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C bằng nhau và đều giá trị 1.038.592.960đ/ người; bà H được trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế bằng 01 kỷ phần trị giá 346.197.653đ. Chia di sản còn lại của ông C cho bà H, ông B, ông Q mỗi người được thừa kế 01 kỷ phần bằng 230.798.436đ. Bà H được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ QSDĐ nêu trên và có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Ngọc B số tiền 230.798.436đ là kỷ phần ông B được hưởng theo di sản; công nhận sự tự nguyện của ông Phạm Vũ

5

Quang T2 cho kỷ phần thừa kế được hưởng là 230.798.436₫ cho bà H là phù hợp và đúng quy định tại Điều 612, khoản 1 Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 BLDS; Điều 33, Điều 46, Điều 66 Luật HNGĐ.

Bởi lẽ trên: Đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Ngọc B, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của TAND thành phố Thanh Hóa.

Về án phí DSPT: ông B là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí DSPT theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH

Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo khoản 5 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.

Bị đơn kháng cáo là ông Phạm Ngọc B có đơn xin xét xử vắng mặt, và có ý kiến xin giữ nguyên nội dung kháng cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Phạm Ngọc B.

Về thời hiệu khởi kiện: Ông Phạm Ngọc C chết ngày 21/10/2014 . Ngày 12 tháng 7 năm 2023 bà Cao Thị H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C để lại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS thì thời hiệu chia di sản thừa kế vẫn còn, như cấp sơ thẩm đánh giá xác định là đúng.

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Phạm Ngọc B có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên đơn kháng cáo, các đương sự không có thỏa thuận được với nhau về các nội dung tranh chấp nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét nội dung kháng cáo:

2.1. Xác định di sản thừa kế: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ thửa đất tại: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T); giấy chứng nhận quyền sử dung đất số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T cấp ngày 09/10/2007 mang tên bà Cao Thị H và ông Phạm Ngọc C, là tài sản chung của vợ chồng bà Cao Thị H và ông Phạm Ngọc C, nên di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C để lại là ½ giá trị khối tài sản nêu trên, tại sơ thẩm đã được các bên đương sự thừa nhận.

6

2.2. Ông Phạm Ngọc C chết ngày 21/10/2014 không để lại di chúc nên xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông C gồm bà Cao Thị H, ông Phạm Ngọc B, ông Phạm Vũ Q như cấp sơ thẩm xác định là đúng quy định .

2.3. Căn cứ vào di sản thừa kế để lại và hàng thừa kế của ông C, cấp sơ thẩm đã chia di sản thừa kế cho các hàng thừa kế được hưởng, ông Phạm Vũ Q đã để lại kỷ phần thừa kế được nhận cho bà Cao Thị H được hưởng, ông Phạm Ngọc B kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

2.3. Xét kháng cáo của ông Phạm Ngọc B:

  • + Sửa lỗi sai trong bản án (ngày mua đất là ngày 19/3/2001 chứ không phải ngày 19/3/2021 và ông Phạm Ngọc B (con trai), chứ không phải ông Phạm Ngọc C (con trai)).

Xét thấy, tại Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 55/2024/QĐ – SCBS ngày 28/8/2024 của Toà án nhân thành phố T, đã sửa chữa các lỗi chính tả nêu trên đảm bảo đúng quy định tại Điều 268 Bộ luật tố tụng Dân sự.

  • + Không đồng ý với việc trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản cho bà H là 346.197.653 đồng và đề nghị Tòa cấp phúc thẩm tính toán chi tiết Cụ thể những việc tu bổ tôn tạo và bảo quản di sản thừa kế của nguyên đơn thực tế đã có công sức đóng góp.

Xét thấy: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thửa đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ thửa đất tại: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T); giấy chứng nhận quyền sử dung đất số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T cấp ngày 09/10/2007 mang tên bà Cao Thị H và ông Phạm Ngọc C, là bà Cao Thị H mua năm 2001 của Công ty K1 với số tiền 48.000.000 đồng. Năm 2002 bà vay số tiền 50.000.000 đồng của Ngân hàng N để xây nên căn nhà 02 tầng trên diện tích đất trên. Năm 2007 bà H kết hôn với ông C, do bà còn nợ lại một ít tiền nên ông C đã đưa tiền cho bà để bà trả hết số nợ khi làm nhà. Như vậy, xác định tài sản là Nhà và đất nêu trên được hình thành trước thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc là của bà H, và ông C cũng có đóng góp một phần tiền vào việc xây dựng nên ngôi nhà. Sau khi ông C chết bà H vẫn đang quản lý, tôn tạo, bảo quản khối di sản thừa kế. Do đó, khi phân chia di sản thừa cấp sơ thẩm trích một kỷ phần để phân chia cho người đang quản lý di sản thừa kế là bà Cao Thị H, cụ thể về đất: 39m²: 3 =13 m² tương đương 325.000.000 đồng về tài sản gắn liền với đất: 63.592.960 đồng:3 = 21.197.653 đồng. Tổng cộng 346.197.653 đồng là phù hợp. Việc trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản cho bà H như bản án sơ thẩm là có cơ sở nên không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

  • + Về nội dung đề nghị Toà án xem xét tính chân thực của nội dung đơn khởi kiện của bà Cao Thị H: Hội đồng xét xử thấy rằng, vụ án đã được cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu chứng cứ của các bên đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

7

Ông Phạm Ngọc B kháng cáo, nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để HĐXX xem xét, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông B.

[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Ngọc B là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14.

[4]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Ngọc B, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

Căn cứ khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 271; 273 BLTTDS; Điều 612, khoản 1 Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, 660 Bộ luật dân sự; Điều 33, 46, 66 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị H.

Xác định phần tài sản của bà Cao Thị H và di sản thừa kế của ông Phạm Ngọc C bằng nhau và đều bằng 39m² đất tương đương 975.000.000 đồng, tài sản trên đất trị giá ½ ngôi nhà 02 tầng bê tông cốt thép, tường xây gạch 110 kết hợp 220 trát vữa, nền lát gạch liên doanh, điện chiếu sáng hoàn chỉnh, xây dựng năm 2002, giá trị tài sản gắn liền với đất là 63.592.960 đồng. Giá trị tổng tài sản của bà H, di sản thừa kế của ông C đều bằng 1.038.592.960 đồng.

Phần tài sản của bà H và di sản thừa kế của ông C đều tọa tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 78m², có địa chỉ: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T).

Bà H được trích công sức đóng góp, bảo quản, tôn tạo di sản thừa kế bằng 01 kỷ phần trị giá 346.197.653 đồng.

Chia di sản còn lại của ông Phạm Ngọc C cho bà Cao Thị H, ông Phạm Ngọc B và ông Phạm Vũ Q mỗi người được thừa kế 01 kỷ phần bằng 230.798.436 đồng và được giao cụ thể như sau:

Giao cho bà Cao Thị H quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, địa chỉ thửa đất tại: Lô S - MBQH A X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là SN D T, phường Đ, thành phố T); giấy chứng nhận quyền sử dung đất số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 379415 do UBND thành phố T câp ngày 09/10/2007 mang tên bà Cao Thị H và ông Phạm Ngọc C. Bà H có quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở theo quy định khi bản án có hiệu lực pháp luật.

8

Bà Cao Thị H có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Ngọc B số tiền 230.798.436 đồng (Hai trăm ba mươi triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm ba sáu đồng) là kỷ phần ông B được hưởng theo di sản.

Công nhận sự tự nguyện của ông Phạm Vũ Quang T2 cho kỷ phần thừa kế được hưởng là 230.798.436 đồng cho bà Cao Thị H.

[2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phạm Ngọc B là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH 14 về quy định mức án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND;VKSND TP. Thanh Hoá
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, Toà DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trường Du

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 143/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Hương khởi kiện chia thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger