Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NINH BÌNH

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2023/HS-ST

Ngày 28 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Văn Mão và bà Nguyễn Thị Dung

Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Đinh Thị N sinh năm 1998 tại N

Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/ 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn K và bà Nguyễn Thị N1; có chồng Đào Duy T, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại: chị Phạm Thị T1 sinh năm 1985; nơi cư trú: số nhà A, đường T, phố G, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 31/8/2023, Đinh Thị N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-377.06 đi từ phòng trọ tại số nhà

2

A, thôn P, xã N, thành phố N đi đến cửa hàng quần áo “Go Boutique” ở số A, đường T, phố G, phường Đ, thành phố N của chị Phạm Thị T1 sinh năm 1985, trú tại phố G, phường Đ, thành phố N để mua quần áo. Khi đến nơi, N để xe trên vỉa hè rồi đi bộ vào đứng trước cửa gọi nhưng không có ai trả lời, N đi vào trong cửa hàng để xem quần áo. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, N quan sát thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen có ốp nhựa màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương có ốp nhựa màu đỏ của chị T1 để ở trên mặt quầy thanh toán kê ở tầng 1 phía bên trái cửa ra vào. Lúc này N nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. N đi đến gần lấy 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi áo chống nắng bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về phòng trọ. Trên đường về N tháo 02 sim điện thoại và tháo 02 ốp điện thoại vất đi. Đến phòng trọ N cất giấu 02 điện thoại trộm cắp được ở đầu giường. Khi chị T1 từ trong nhà đi ra phát hiện bị mất 02 chiếc điện thoại nên đã kiểm tra Camera của cửa hàng và đến công an phường Đ, thành phố N trình báo. Hồi 15 giờ ngày 01/9/2023, biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình Đinh Thị N đã đến Phòng C Công an tỉnh N đầu thú hành vi phạm tội của mình và giao nộp 02 chiếc điện thoại đã trộm cắp của chị T1. Ngoài ra Phòng C Công an tỉnh N đã thu giữ của N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-377.06, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 045464 mang tên Đinh Thị N và 01 mũ bảo hiểm màu hồng trên mũ có dòng chữ LOVE. Sau khi tiếp nhận đơn xin đầu thú của Đinh Thị N, Phòng C Công an tỉnh N bàn giao hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen có giá là 3.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh dươngcó giá là 7.500.000 đồng; 01 ốp điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X bằng nhựa màu trắng có giá là 50.000 đồng; 01 ốp điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 bằng nhựa màu đỏ có giá là 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 11.100.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xử lý vật chứng và tài sản thu giữ như sau:

  • + Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị T1.
  • + Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-

3

377.06, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 045464 mang tên Đinh Thị N và 01 mũ bảo hiểm màu hồng trên mũ có dòng chữ LOVE.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương Bị cáo N đã tự nguyện bồi thường giá trị 02 ốp điện thoại và 02 sim điện thoại của chị T1 không truy tìm được với số tiền 100.000 đồng. Bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì.

Tại Cáo trạng số 141/CT-VKS ngày 16 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Đinh Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bị cáo Đinh Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Thị N từ 6 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/11/2023)
  • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  • Xử lý tài sản thu giữ: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-377.06, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 045464 mang tên Đinh Thị N và 01 mũ bảo hiểm màu hồng trên mũ có dòng chữ LOVE.
  • Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đinh Thị N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo Đinh Thị N khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/8/2023 khi bị cáo đi mua quần áo tại cửa hàng quần áo “Go” của chị Phạm Thị T1 ở số A đường T, phố G, phường Đ, thành phố N, bị cáo đã lấy trộm của chị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen có ốp nhựa màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương có ốp nhựa màu đỏ để trên quầy thanh toán của cửa hàng.

Trong quá trình điều tra bị hại là chị Phạm Thị T1 khai: Tối ngày 31/8/2023 chị T1 để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen có ốp nhựa màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương có ốp nhựa

4

màu đỏ trên bàn thanh toán ở tầng 1 cửa hàng quần áo “Go” số 197 đường T, phố G, phường Đ, thành phố N thì bị mất trộm.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thư giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 31/8/2023 Đinh Thị N đã lén lút chiếm đoạt của chị Phạm Thị T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen có ốp nhựa màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương có ốp nhựa màu đỏ có tổng giá trị là 11.100.000 đồng tại cửa hàng quần áo “Go” của chị Phạm Thị T1 ở số A đường T, phố G, phường Đ, thành phố N.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đinh Thị N phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

  • - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường; phạm tội lần đầu và

5

thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người phạm tội đầu thú theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo N Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là tương xứng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo cũng như đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm.

[2] Về trách nhiệm dân sự: chị T1 đã nhận lại tài sản 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương. Bị cáo N đã tự nguyện bồi thường giá trị 02 ốp điện thoại và 02 sim điện thoại của chị T1 với số tiền 100.000 đồng. Chị T1 không có đề nghị, yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 màu xanh dương cho bị hại. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-377.06, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 045464 mang tên Đinh Thị N và 01 mũ bảo hiểm màu hồng trên mũ có dòng chữ LOVE là tài sản của bị cáo N. Xét thấy các tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo N theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án., bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Quyền kháng cáo: bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng

6

khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Thị N phạm tội “trộm cắp tài sản”

    Xử phạt bị cáo Đinh Thị N 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 28/11/ 2023).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  2. Xử lý tài sản thu giữ: trả lại cho bị cáo Đinh Thị N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 35 K1-377.06, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 045464 mang tên Đinh Thị N và 01 mũ bảo hiểm màu hồng trên mũ có dòng chữ LOVE.

    (Vật chứng hiện đang được quản lý tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N và có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2023 giữa Công an thành phố N và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N).

  3. Về án phí: bị cáo Đinh Thị N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7

  1. Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 28/11/ 2023); bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA DS thành phố Ninh Bình;
  • - Cơ quan điều tra và Cơ quan THAHS Công an thành phố Ninh Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 143/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 143/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị N phạm tội " Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger