|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1425/2024/KDTM-ST
Ngày: 25/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Hòa Bình
- Bà Nguyễn Thị Nhơn
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Trân - Thư ký Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên
Trong các ngày 26/6/2024 và 25/7/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án thụ lý số 2090/2023/TLST-KDTM ngày 16/11/2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 315/2024/QĐXXST-KDTM ngày 27/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2024/QĐST-DS ngày 26/6/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Lê Đình M; địa chỉ: I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo Giấy uỷ quyền số 2455/2024/UQ-KHDNMN ngày 22/3/2024 (có mặt).
-
Bị đơn: Công ty TNHH S Na
Địa chỉ: số A H, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H- chức vụ Giám đốc, sinh năm 1991
Địa chỉ: số A H, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: số A H, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Nguyên đơn trình bày:
-
Ký kết và thực hiện hợp đồng:
Công ty TNHH S (gọi tắt là Công ty S) đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là V1) theo các Hợp đồng tín dụng sau:
-
Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022 với nội dung cơ bản như sau:
- - Giá trị hạn mức tín dụng là: 1.900.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm triệu đồng).
- - Thời hạn duy trì hạn mức tín dụng: 12 tháng
- - Mục đích cấp tín dụng: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động: Bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng và gia công cơ khí.
- * Thực hiện hợp đồng nêu trên, V1 đã giải ngân số tiền vay theo các Khế ước nhận nợ sau:
-
Khế ước nhận nợ số 141122-5561005-ONL-5 ngày 17/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232100579)
- - Số tiền cho vay: 105.689.323 đồng (Một trăm lẻ năm triệu sáu trăm tám mươi chín nghìn ba trăm hai mươi ba đồng).
- - Thời hạn cho vay: 06 tháng.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 20,10%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 1 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 1 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 17/12/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 6 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 11%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán và Ngân hàng trực tiếp thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Tiền gốc đã trả: 37.114.751 đồng;
- + Tiền lãi đã trả: 6.999.529 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 44.114.280 đồng.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Tiền nợ gốc: 68.574.572 đồng;
- + T nợ lãi: 38.767.387 đồng;
- + T lãi chậm trả: 440.038 đồng;
- + Tổng cộng: 107.781.997 đồng.
-
Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-6 ngày 21/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232502214)
- - Số tiền cho vay: 435.276.317 đồng (Bốn trăm ba mươi lăm triệu hai trăm bảy mươi sáu nghìn ba trăm mười bảy đồng).
- - Thời hạn cho vay: 06 tháng.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 20,10%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 1 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 1 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 21/12/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 6 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 11 %/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Tiền gốc đã trả: 0 đồng;
- + Tiền lãi đã trả: 27.832.641 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 27.832.641 đồng.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Tiền nợ gốc: 435.276.317 đồng;
- + T nợ lãi: 162.195.881 đồng;
- + T lãi chậm trả: 1.853.490 đồng;
- + Tổng cộng: 599.325.688 đồng.
-
Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-7 ngày 22/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232601088):
- - Số tiền cho vay: 359.034.360 đồng (Ba trăm năm mươi chín triệu không trăm ba mươi tư nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
- - Thời hạn cho vay: 06 tháng.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 20,10%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 1 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 1 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 22/12/2022. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 6 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 11 %/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 27/5/2024 là:
- + Tiền gốc đã trả: 0 đồng;
- + Tiền lãi đã trả: 22.766.713 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 22.766.713 đồng.
Tạm tính đến ngày 27/5/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Tiền nợ gốc: 359.034.360 đồng;
- + T nợ lãi: 138.432.829 đồng;
- + T lãi chậm trả: 1.489.058 đồng;
- + Tổng cộng số tiền còn nợ: 498.956.247 đồng.
-
Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-9 ngày 07/4/2023 (Mã hợp đồng: LD2309702193):
- - Số tiền cho vay: 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
- - Thời hạn cho vay: 06 tháng.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 18,60%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 1 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 1 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 07/5/2023. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 6 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 9,30 %/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Nợ gốc đã trả: 0 đồng;
- + Nợ lãi đã trả: 0 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 0 đồng.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Nợ gốc: 400.000.000 đồng;
- + Nợ lãi: 131.043.288 đồng;
- + L chậm trả: 700.524 đồng;
- + Tổng cộng số tiền còn nợ: 531.743.812 đồng.
-
Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-10 ngày 10/4/2023 (Mã hợp đồng: LD2310001727):
- - Số tiền cho vay: 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).
- - Thời hạn cho vay: 06 tháng.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 18,40%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 1 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 1 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 10/5/2023. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 6 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 9,30%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán được cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Tiền gốc đã trả: 0 đồng;
- + Tiền lãi đã trả: 205.944 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 205.944 đồng.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Nợ gốc: 600.000.000 đồng;
- + Nợ lãi: 195.638.166 đồng;
- + Nợ lãi chậm trả: 928.114 đồng;
- + Tổng cộng số tiền còn nợ: 796.566.280 đồng.
-
Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 050522-5561005-AUTO-1/HĐ ngày 06/5/2022 được giải ngân theo Khế ước nhận nợ số 050522-5561005-AUTO-1 ngày 06/5/2022 (Mã hợp đồng: LD2212600420)
- - Số tiền cho vay: 780.300.000 đồng (Bảy trăm tám mươi triệu ba trăm nghìn đồng).
- - Thời hạn cho vay: 70 tháng.
- - Mục đích vay: Mua ô tô mới phục vụ mục đích đi lại.
- - Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 18,40%/năm. Lãi suất được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 07/5/2023. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của Bên Ngân hàng áp dụng đối với khoản giải ngân có kỳ hạn là 70 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 1 tháng/lần tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,10%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thanh toán và Ngân hàng trực tiếp thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Nợ gốc đã trả: 780.299.999 đồng;
- + Nợ tiền lãi đã trả: 49.740.690 đồng;
- + Tổng số tiền đã trả: 830.040.689 đồng.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ Ngân hàng:
- + Nợ gốc: 01 đồng;
- + Nợ lãi: 141.293.225 đồng;
- + Nợ lãi chậm trả: 516.448 đồng;
- + Tổng cộng số tiền còn nợ: 141.809.673 đồng.
-
Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số hợp đồng 0315063074.01 ngày 21/5/2021.
- - Số thẻ: 139-C-3247270.
- - Loại thẻ: thẻ tín dụng quốc tế MasterCard.
- - Hạn mức: 500.000.000 đồng.
- - Lãi suất áp dụng với dư nợ thẻ tín dụng: 32%.
- - Thời hạn hạn mức thẻ: 60 tháng.
- - Phương án sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động cho hoạt động bán buôn vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng và gia công cơ khí.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.647.840.241 đồng và đã thanh toán được 883.250.454 đồng, còn nợ Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 25/7/2024 là:
- + Nợ gốc : 498.770.177 đồng;
- + Nợ lãi: 265.819.610 đồng;
- + Tổng cộng số tiền còn nợ: 764.589.787 đồng.
-
Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022 với nội dung cơ bản như sau:
-
Tài sản bảo đảm:
Để bảo đảm cho tất cả các khoản vay trên, V1 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn S đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm sau:
-
Biện pháp bảo đảm thứ nhất: Ngôi sao Vina thế chấp tài sản là xe ô tô, cụ thể:
- - Xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022. Chủ sở hữu xe ô tô nêu trên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Tài sản trên được thế chấp theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô (Áp dụng với khách hàng có tư cách pháp nhân thuộc phân khúc SME) số 050522-5561005-AUTO-1/HĐ ngày 06/5/2022. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo số đơn 1436032479, thời điểm đăng ký ngày 06/05/2022.
- Biện pháp thứ hai: Bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản cá nhân của ông Nguyễn Văn H theo Hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022.
-
Biện pháp bảo đảm thứ nhất: Ngôi sao Vina thế chấp tài sản là xe ô tô, cụ thể:
-
Yêu cầu đòi nợ:
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty S đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển quá hạn nợ từ ngày 05/5/2023. V1 đã nhiều lần liên hệ với Công ty S để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Đồng thời, V1 cũng yêu cầu ông Nguyễn Văn H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên Công ty S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và ông Nguyễn Văn H cũng không thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của mình.
Từ khi khoản nợ quá hạn đến nay, Ngân hàng không liên lạc được với phía Công ty S và ông Nguyễn Văn H. Đối với tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô, do xe hết đăng kiểm nên người trực tiếp sử dụng xe (bên thứ 3) đã bàn giao xe cho Ngân hàng vào ngày 05/7/2024. Ngân hàng đã xử lý được tài sản thế chấp và thu hồi được số tiền nợ gốc là 694.793.000 đồng.
Do vậy, nay Ngân hàng xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022. Chủ sở hữu xe ô tô nêu trên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S đã thanh toán cho V1 tổng số tiền:
- Gốc đã trả : 817.414.750 đồng
- Lãi đã trả : 107.545.517 đồng
- Tổng cộng : 924.960.267 đồng
Tạm tính đến ngày 25/7/2024, Công ty S còn nợ V1 số tiền sau:
- Nợ gốc : 1.862.885.250 đồng
- Nợ lãi quá hạn : 807.370.775 đồng
- Nợ lãi chậm trả : 5.927.672 đồng
- Nợ thẻ : 764.589.787 đồng
- Tổng cộng : 3.440.773.484 đồng
Ngân hàng yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng với tổng số tiền là 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024) một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Tiền lãi phát sinh sẽ tiếp tục được tính từ ngày 26/7/2024 trên số dư nợ vốn vay cho đến khi bị đơn trả xong nợ, theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng.
Trường hợp Công ty S thanh toán không đầy đủ hoặc không thanh toán theo khoản nợ nêu trên cho V1, thì ông Nguyễn Văn H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S theo hợp đồng bảo lãnh đã ký với Ngân hàng.
-
Ký kết và thực hiện hợp đồng:
-
Bị đơn- Công ty TNHH S Vi Na:
Bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, hoà giải và và các phiên tòa xét xử, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H:
Ông Nguyễn Văn H đã vắng mặt trong suốt quá trình Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, hoà giải và các phiên tòa xét xử, mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu:
- - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định. Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định đối với các đương sự trong vụ án.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70,72,73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án:
Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022. Chủ sở hữu xe ô tô nêu trên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận nên căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; nghe ý kiến trình bày của đại diện nguyên đơn và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V với Công ty S là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; bị đơn có trụ sở tại quận B nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Bình Thạnh.
-
Về thủ tục tố tụng:
Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Toà án để làm bản khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, xét xử vụ án. Phiên toà được mở lần thứ 02 nhưng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung tranh chấp nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
-
Về yêu cầu của nguyên đơn :
[3.1] Nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng trong trường hợp Công ty S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ. Tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022. Chủ sở hữu xe ô tô nêu trên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
Hội đồng xét xử nhận định: Hiện nay tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022 đã được nguyên đơn xử lý để thu hồi nợ gốc cho nguyên đơn với số tiền thu hồi được là 694.793.000 đồng. Do vậy, tài sản thế chấp đã không còn nên việc rút một phần yêu cầu khởi kiện trên là ý chí tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[3.2] Nguyên đơn yêu cầu Công ty S thanh toán số tiền nợ gốc là 1.862.885.250 đồng, nợ lãi quá hạn là 807.370.775 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.927.672 đồng, nợ thẻ tín dụng 764.589.787 đồng, tổng cộng là 3.440.773.484 đồng; Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022 và Khế ước nhận nợ số 141122-5561005-ONL-5 ngày 17/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232100579), Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-6 ngày 21/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232502214), Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-7 ngày 22/11/2022 (Mã hợp đồng: LD2232601088), Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-9 ngày 07/4/2023 (Mã hợp đồng: LD2309702193), Khế ước nhận nợ số 211122-5561005-ONL-10 ngày 10/4/2023 (Mã hợp đồng: LD2310001727); Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 050522-5561005-AUTO-1/HĐ ngày 06/5/2022 được giải ngân theo Khế ước nhận nợ số 050522-5561005-AUTO-1 ngày 06/5/2022 (Mã hợp đồng: LD2212600420); Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số hợp đồng 0315063074.01 ngày 21/5/2021 cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Công ty S đã vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền là 2.680.300.000 đồng, đồng thời Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng Quốc tế cho công ty với hạn mức 500.000.000 đồng. Sau khi nhận nợ đến nay, Công ty S mới thanh toán cho nguyên đơn được 817.414.750 đồng tiền nợ gốc (trong đó, tiền nợ gốc được thu từ việc xử lý tài sản thế chấp- xe ô tô ngày 05/7/2024 là 694.793.000 đồng) và 107.545.517 đồng tiền nợ lãi, tổng cộng là 924.960.267 đồng. Đối với thẻ tín dụng Quốc tế, Công ty S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.647.840.241 đồng nhưng mới thanh toán được 883.250.454 đồng.
Do đó, theo quy định tại Điều 3 của các Hợp đồng tín dụng và khoản 6 Điều 2 của các Khế ước nhận nợ, Điều 2 và Điều 9 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số hợp đồng 0315063074.01 ngày 21/5/2021, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần và tạo điều kiện trả nợ cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ.
Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Trong hợp đồng tín dụng, các bên đã thỏa thuận về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn, Công ty S không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng. Xem xét thời gian tính lãi, mức lãi suất mà Ngân hàng đã áp dụng là phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định trong hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng N được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN03-2-2005.
Trong khi đó, bị đơn- công ty S vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Hiện nay, Ngân hàng không liên hệ được với ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo pháp luật của Công ty S và đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Đối với chiếc xe ô tô là tài sản thế chấp mà Ngân hàng mới xử lý được vào ngày 05/7/2024 là do người thứ 3 sử dụng và giao lại cho Ngân hàng do xe hết đăng kiểm. Công ty S không tự nguyện thực hiện việc giao tài sản thế chấp để Ngân hàng xử lý. Quá trình xác minh của Toà án về tình trạng hoạt động của Công ty S và nơi cư trú của ông Nguyễn Văn H cũng thể hiện công ty H1 không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và ông H không thực tế cư trú tại địa phương từ tháng 6/2023 đến nay. Vì vậy, bị đơn đã trốn tránh trách nhiệm trả nợ và tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi, nợ thẻ tín dụng với tổng số tiền là 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024), ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
[3.3] Nguyên đơn yêu cầu: Trong trường hợp Công ty TNHH S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024) cho Ngân hàng thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm trả nợ thay cho Công ty S cho Ngân hàng TMCP V theo hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn H và Ngân hàng TMCP V.
Hội đồng xét xử nhận định:
Trong Điều 5 của Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022 đã quy định về biện pháp bảo đảm tiền vay là nghĩa vụ trả nợ của công ty S Vi Na được bảo đảm bằng bảo lãnh cá nhân của ông Nguyễn Văn H, CMND số [...] (ông Nguyễn Văn H là giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của công ty S). Chi tiết về các biện pháp và tài sản bảo đảm được thỏa thuận cụ thể theo Hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn H và Ngân hàng TMCP V.
Xét Hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022 quy định về nghĩa vụ của bên bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty S trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số EVG/22778 ngày 08/6/2022 và các hợp đồng, văn bản tín dụng khác ký giữa bên được bảo lãnh và bên ngân hàng bao gồm cả các phụ lục, văn bản sửa đổi, bổ sung, các khế ước nhận nợ và văn bản liên quan. Nội dung và hình thức của Hợp đồng bảo lãnh nêu trên hoàn toàn phù hợp với quy định tại các Điều 292, 293, 335, 336 và các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, trong trường hợp Công ty S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ nêu trên cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ của Công ty S cho Ngân hàng TMCP V theo quy định tại Điều 1, Điều 2 và Điều 3 của Hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022 và Điều 342 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong khi đó, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan- ông Nguyễn Văn H đã vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ. Vì vậy, ông Nguyễn Văn H đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của ông H.
[3.4].Từ những nhận định tại mục [3.2] và [3.3] nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh.
-
Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều Điều 292, 293, 335, 336, 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V về việc yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng trong trường hợp Công ty S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ. Tài sản thế chấp là xe ô tô con nhãn hiệu Ford, số loại Ranger, màu đỏ cam, số khung RL2UMFF60NTR20426, số máy YN2QPNT20426, biển số 51D-716.72 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 50132109 do Phòng C Công an thành phố H cấp ngày 04/5/2022. Chủ sở hữu xe ô tô nêu trên là Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng TMCP V:
-
Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022, Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 050522-5561005-AUTO-1/HĐ ngày 06/5/2022, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số hợp đồng 0315063074.01 ngày 21/5/2021 là 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024), trong đó tiền nợ gốc là 1.862.885.250 đồng, nợ lãi quá hạn là 807.370.775 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.927.672 đồng, nợ thẻ tín dụng 764.589.787 đồng. Số tiền 3.440.773.484 đồng được trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp Công ty TNHH S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số nợ 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024) nêu trên thì ông Nguyễn Văn H phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản nợ của Công ty TNHH S cho Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng bảo lãnh số EVG/22778/HĐBL ngày 08/06/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn H và Ngân hàng TMCP V.
-
Buộc Công ty TNHH S phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền còn nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức số EVG/22778 ngày 08/6/2022, Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 050522-5561005-AUTO-1/HĐ ngày 06/5/2022, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số hợp đồng 0315063074.01 ngày 21/5/2021 là 3.440.773.484 đồng (tạm tính đến ngày 25/7/2024), trong đó tiền nợ gốc là 1.862.885.250 đồng, nợ lãi quá hạn là 807.370.775 đồng, nợ lãi chậm trả là 5.927.672 đồng, nợ thẻ tín dụng 764.589.787 đồng. Số tiền 3.440.773.484 đồng được trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
-
Về án phí:
Công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 100.814.470 đồng.
Ngân hàng TMCP V được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp là 50.252.000 đồng theo biên lai thu số 0028901 ngày 09/11/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh.
Việc thi hành án được thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Đào |
Bản án số 1425/2024/KDTM-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1425/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
