|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NÔI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/DSST Ngày 31 tháng 5 năm 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Bích Liên
2. Ông Phạm Bá Xuân
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:
Bà Bùi Mai Phương- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 101/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QÐST - DS ngày 25 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2024/QĐST-HPT ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S (S1). Trụ sở: 266 – B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc; Đại diện theo uỷ quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản ngân hàng S (Công ty S2) (theo Giấy uỷ quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022); Người đại diện theo pháp luật của công ty S2: Ông Lê Ngọc T – Tổng Giám đốc; ông T uỷ quyền lại cho ông Nguyễn Thanh H theo Giấy ủy quyền số 2132/2024/UQ-TGĐ ngày 03/4/2024. Ông H có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Bà Đỗ Thùy T1, Sinh năm 1997; HKTT: Số A P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Bà T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh H trình bầy:
Ngày 02/4/2020, bà Đỗ Thùy T1 và Ngân hàng TMCP S có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của Bà T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng V, bà T1 đã thực hiện các giao dịch trong suốt quá trình vay đến khi vi phạm hợp đồng với tổng số tiền là 9.673.050 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà T1 đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 9.673.050 đồng và bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 4.211.312 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, gia hạn tạo điều kiện nhưng Bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của Bà T1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc thẻ 150% lãi suất trong hạn. Tạm tính đến ngày 31/5/2024, Bà T1 còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 9.924.125 đồng; Lãi trong hạn: 849.285 đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 đồng. Tổng cộng: 26.289.690 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà T1, yêu cầu bà T1 có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà T1 trả nợ, tuy nhiên bà T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản qui định tại Hợp đồng đã ký.
Vì vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết với các nội dung sau:
- Buộc bà Đỗ Thùy T1 trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024: Nợ gốc: 9.924.125 đồng; Lãi trong hạn: 849.285 đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 đồng. Tổng cộng: 26.289.690 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S.
- Bà Đỗ Thùy T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 01/6/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo lãi suất tại hợp đồng.
Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn Tuy nhiên, bị đơn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải cho nguyên đơn, bị đơn. Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:
- - Về thẩm quyền: Theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ: Bà Đỗ Thùy T1 có hộ khẩu thường trú tại số A P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Như vậy, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án đúng quy định về thẩm quyền.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm:
- + Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
- - Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S: Buộc bà Đỗ Thùy T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 31/5/2024, gồm: Nợ gốc: 9.924.125 đồng; Lãi trong hạn: 849.285 đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 đồng. Tổng cộng: 26.289.690 đồng và khoản lãi phát sinh sau ngày 31/5/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn - bà Đỗ Thùy T1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Bà Đỗ Thùy T1 vắng mặt không có lý do lần thứ hai liên tiếp. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành tố tụng giải quyết và xét xử vụ án vắng mặt Bà Đỗ Thùy T1.
Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S và bà Đỗ Thùy T1, mục đích mở thẻ tín dụng tiêu dùng cá nhân. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Đỗ Thùy T1 đăng ký nhân khẩu thường trú tại số A P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội, do bà Đỗ Thùy T1 không thanh toán được khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S khi đến hạn trả nợ. Do vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã khởi kiện Bà T1 đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình, đề nghị Tòa án giải quyết buộc Bà T1 phải thanh toán trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S toàn bộ khoản nợ gốc, lãi và lãi phát sinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
Ngày 02/4/2020, bà Đỗ Thùy T1 và Ngân hàng TMCP S có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn từ ngày 23/5/2021. Ngày 20/02/2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình đã nhận được đơn khởi kiện của ngân hàng đối với bà T1. Căn cứ Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này không thuộc trường hợp phải áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Quá trình giải quyết vụ án, trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét.
[2]. Về nội dung:
Ngày 02/4/2020, bà Đỗ Thùy T1 và Ngân hàng TMCP S có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bà T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là: 10.000.000 (Mười triệu đồng); Mục đích vay: Mở thẻ tín dụng để tiêu dùng cá nhân; Biện pháp đảm bảo cho khoản vay: Tín chấp. Hội đồng xét xử nhận thấy, hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 02/4/2020 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Do đó xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trả góp, bà T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 23/5/2021 nên theo Điều 24 của điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quy định vi phạm:
- “24.1.Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ TBGD tiến theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng.
- 24.2 Nếu Chủ Thẻ có nhiều hơn một Thẻ tại S1, việc vi phạm ở một Thẻ sẽ tự động được xem như là vi phạm ở tất cả Thẻ khác.
- 24.3 Trường hợp Chủ Thẻ có bất kỳ khoản nợ nào khác tại S1 và/hoặc tại bất cứ tổ chức tín dụng nào khác phát sinh quá hạn, Dư Nợ của Chủ Thẻ theo Hợp Đồng này cũng được xem là quá hạn và Chủ Thẻ có trách nhiệm thanh toán toàn bộ Dư Nợ.
- 24.4 Khi vi phạm xảy ra, Chủ Thẻ hiểu và đồng ý rằng S1 có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:
- Tạm ngưng hoặc Chấm Dứt sử dụng Thẻ và thu hồi toàn bộ Dư Nợ b) Áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của S1. Sau75 ngày kể từ ngày lập TBGD hoặc sau 03 (ba) kỳ TBGD liên tiếp, nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán ít hơn Số Tiền Tối Thiểu, S1 sẽ chấm dứt việc sử dụng thẻcủa Chủ Thẻ.
- Tiến hành các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ kể cả việc gọi điện thoại/gửi văn bản cho bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào để thông báo về việc vi phạm của Chủ T2 và yêu cầu hỗ trợ điều tra, xác minh và/hoặc khởi kiện Chủ Thẻ;
- Chủ T2 đồng ý vô điều kiện và không hủy ngang ủy quyền cho S1 thay mặt Chủ Thẻ để ký bất kỳ/tất cả tài liệu và thực hiện bất kỳ/tất cả các hành động cần thiết để thu nợ của Chủ Thẻ;
- Đưa tên của Chủ Thẻ vào danh sách các Chủ Thẻ vi phạm (hoặc các loại danh sách tương tự) của S1, của bất kỳ CQNN hoặc tổ chức nào khác; và
- Có quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác trong việc, theo thủ tục hợp pháp, truy đòi bất kỳ khoản nợ nào của Chủ Thẻ tại S1 bằng việc giữ lại bất kỳ số tiền hoặc bất kỳ tài sản nào được giữ bởi S1 hoặc bởi S1 thay mặt cho Chủ T3.”.
Nay Ngân hàng khởi kiện buộc Bà T1 phải thanh toán cho ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 31/5/2024, cụ thể: Nợ gốc: 9.924.125 đồng; Lãi trong hạn: 849.285 đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 đồng. Tổng cộng: 26.289.690 đồng. Đối với yêu cầu tính lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP S, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua đối chiếu nhận thấy cách tính lãi, phí chậm thanh toán của các bên theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S phù hợp quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn bà Đỗ Thùy T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
- Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
- Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).
Căn cứ Điều 345; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc bà Đỗ Thùy T1 thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.
- Xác nhận bà Đỗ Thùy T1 còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024, cụ thể như sau: Nợ gốc: 9.924.125 (Chín triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, một trăm hai mươi lăm) đồng; Lãi trong hạn: 849.285 (T4 trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi lăm) đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 (Mười lăm triệu, năm trăm mười sáu nghìn, hai trăm tám mươi) đồng. Tổng cộng: 26.289.690 (Hai mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm chín mươi) đồng.
- Buộc bà Đỗ Thùy T1 thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP S với tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024, cụ thể như sau: Nợ gốc: 9.924.125 (Chín triệu, chín trăm hai mươi tư nghìn, một trăm hai mươi lăm) đồng; Lãi trong hạn: 849.285 (T4 trăm bốn mươi chín nghìn, hai trăm tám mươi lăm) đồng; Lãi quá hạn: 15.516.280 (Mười lăm triệu, năm trăm mười sáu nghìn, hai trăm tám mươi) đồng. Tổng cộng: 26.289.690 (Hai mươi sáu triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, sáu trăm chín mươi) đồng.
- Do bị đơn không đưa ra yêu cầu phản tố nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này giữa các bên có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Đỗ Thùy T1 phải chịu 657.242 (Sáu trăm năm mươi bảy nghìn, hai trăm bốn mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).
- - Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 (Sáu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005060 ngày 22/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, bà Đỗ Thùy T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 02/4/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.
Trường hợp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn Bà Đỗ Thùy T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 142/2024/DSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 142/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
