|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ -TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2023/HS-ST
Ngày: 29-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời và ông Nguyễn Kim Thành.
Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 146/2023/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:
LÊ TIẾN LỰC Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 31/7/1991 Tại Quảng Ninh. Giới tính: Nam.
Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Tổ G, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội; ghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C, sinh năm 1968 và bà Hà Thị H, sinh năm 1971; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
- Tiền án:
+ Ngày 10.3.2016, bị TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 16.3.2018, bị TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 15.5.2018, bị TAND quận Nam Từ Liêm, TP . xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 21 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tồng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” bị TAND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên tuyên phạt vào ngày 16.3.2018, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 51 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05.9.2021.
+ Ngày 30.9.2023, bị TAND quận Thanh Khê, TP . xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; 01 năm tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tồng hợp với hình phạt 32 tù về tội: “Trộm cắp tài sản” bị TAND quận Đống Đa, TP tuyên phạt vào ngày 12.7.2023, buộc phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 02 tháng tù.
- Tiền sự: Chưa;
- Về nhân thân:
+ Ngày 24.9.2009, bị TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 18.01.2011, bị TAND huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 02.4.2013, bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số: 814 ngày 29.3.2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Q;
+ Ngày 12.7.2023, bị TAND quận Đống Đa, TP . Ninh xử phạt 32 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”;
+ Ngày 15.8.2023, bị TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 04 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, thành phố Đà Nẵng trong vụ án khác. Có mặt.
- Bị hại: Chị Trần Thị Yến N, sinh năm 2004; nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi tạm trú: K T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, chị Trần Thị Yến N và Lê Tiến L quen biết và nảy sinh tình cảm với nhau. Vào ngày 09/8/2022, Lê Tiến L đến TP . để thăm chị N nên khoảng 11 giờ cùng ngày, L đến ga Đ và được chị N đón bằng xe mô tô hiệu Wave mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42. Sau đó, chị N và L cùng nhau đi ăn uống, đi dạo chơi tại TP .
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, do đến giờ đi làm nên L điều khiển xe mô tô hiệu Wave, mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 chở chị N đến chỗ làm của chị N tại địa chỉ F T, quận S. Tại đây, Lê Tiến L hỏi mượn xe mô tô mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 của chị N để đi và hẹn đến 22 giờ cùng ngày sẽ đến đón và trả xe nên chị N đồng ý cho mượn. Sau khi mượn được xe mô tô mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42, Lê Tiến L sử dụng để dạo quanh trên các tuyến đường tại TP . và sau đó do đang thiếu tiền, L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đã mang xe mô tô mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 mượn của chị N đi thẳng ra Hà Nội và cắt liên lạc với chị N. Đến ngày 12.8.2022, chị N đến Công an phường A, quận S để trình báo.
Sau khi ra Hà Nội, Lê Tiến L đã bán xe mô tô mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 cho 01 người không rõ nhân thân lai lịch được số tiền 8.000.000 đồng. Đến cuối tháng 11 năm 2022, L liên lạc với chị N và nói đã bán xe mô tô của chị N cho người khác và hứa sẽ mua lại chiếc xe mô tô khác trả cho N nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được.
Tang vật tạm giữ: Không;
Tại Kết luận số: 46 ngày 07.7.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận S xác định: 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 trị giá 10.900.000 đồng.
* Về dân sự: Chị Trần Thị Yến N yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản đã bị chiếm đoạt.
* Lời khai của bị hại đã được công bố tại phiên tòa có nội dung phù hợp với lời khai của bị cáo.
Cáo trạng số 137/CT-VKS-ST ngày 04/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Tiến L về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Tiến L phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Tiến L từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của Bản án này với hình phạt của Bản án số: 133/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của TAND quận Thanh Khê, TP .. Riêng đối với Bản án số: 52/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo nên không tổng hợp hình phạt.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 586 và 589 Bộ luật dân sự. Buộc Lê Tiến L phải bồi thường cho chị Trần Thị Yến N số tiền 10.900.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì.
Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 17 giờ ngày 09/8/2023, tại địa chỉ số F T, quận S, TP . sau khi mượn được xe mô tô hiệu Wave mang biển kiểm soát 92D1 – 722.42 trị giá 10.900.000 đồng của chị Trần Thị Yến N, Lê Tiến L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản và mang xe mô tô này đi bán lấy số tiền 8.000.000 đồng để tiêu xài. Bên cạnh đó tại Bản án số 129/2018/HS-ST ngày 15/5/2018 của TAND quận Nam Từ Liêm, TP . xác định Lê Tiến L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, hiện chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của Lê Tiến L thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, do không muốn lao động mà vẫn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng quan hệ và lòng tin của chủ sở hữu thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô hiệu Wave mang biển kiểm soát 92D1-722.42 của chị Trần Thị Yến N có giá trị 10.900.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, trước đó đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Điều này chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, nên cần phải lên cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Do đó, HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5]. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án (Bản án số: 133/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của TAND quận Thanh Khê, TP. và Bản án ngày hôm nay) là phù hợp. Riêng đối với Bản án số: 52/2023/HS-ST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo nên HĐXX không tổng hợp hình phạt.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, chị Trần Thị Yến N vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền 10.900.000 đồng - do tài sản là 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đen bạc mang biển kiểm soát 92D1-722.42 bị bị cáo chiếm đoạt không thu hồi được. Xét yêu cầu của chị Trần Thị Yến N phù hợp với Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 586 và 589 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận. Do đó, cần buộc bị cáo L phải bồi thường cho chị N toàn bộ số tiền trên.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Tiến L phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Lê Tiến L 03 (Ba) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với 07 (Bảy) năm 02 (Hai) tháng tù của Bản án số: 133/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, TP .. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho 02 Bản án là: 10 (Mười) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 586 và 589 Bộ luật dân sự.
Buộc Lê Tiến L phải bồi thường cho chị Trần Thị Yến N số tiền 10.900.000 đồng (Mười triệu chín trăm ngàn đồng).
3. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Án phí HS-ST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Lê Tiến L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
5. Án phí DS-ST: Bị cáo Lê Tiến L phải chịu 545.000 đồng (Năm trăm bốn mươi lăm ngàn đồng).
6. Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Đông Thanh |
Bản án số 142/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 142/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân quận S đưa ra xét xử bị cáo Trần Tiến L về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
