TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-8 - 2024 “V/v Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kha Văn Minh.
Ông Trần Doãn Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 101/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 529/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh La Văn T, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Bản L, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Chị Lê Thị A, sinh năm 1999.
Nơi cư trú: Bản L, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh La Văn T: Ông Phạm Thế K - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 13/11/2023 và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn anh La Văn T trình bày:
- Về tình cảm: Anh La Văn T và chị Lê Thị A kết hôn với nhau vào ngày 20 tháng 9 năm 2017 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không phù hợp, trong cuộc sống vợ chồng thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Chị A là người thường xuyên cờ bạc, lô đề, không quan tâm đến chồng con và gia đình. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ đầu năm 2023 cho đến nay, vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Anh T thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với bị đơn chị Lê Thị A.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 người con chung tên là La Bảo D, sinh ngày 26/4/2016 và La Bảo T1, sinh ngày 25/10/2017. Hiện nay hai con D và T1 đang do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi hai con La Bảo D và La Bảo T1 và không yêu cầu chị Lê Thị A cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh La Văn T và chị Lê Thị A không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh La Văn T và chị Lê Thị A không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn chị Lê Thị A vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho anh La Văn T được ly hôn với chị Lê Thị A; Về con chung: Giao con chung La Bảo D, sinh ngày 26/4/2016 và La Bảo T1, sinh ngày 25/10/2017 cho anh La Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lê Thị A; Về tài sản và nợ chung: Anh La Văn T và chị Lê Thị A không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh La Văn T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh La Văn T có ý kiến: Tình cảm hôn nhân giữa anh La Văn T và chị Lê Thị A không hạnh phúc vì chị A là người thường xuyên lô đề, cờ bạc không quan tâm chăm sóc chồng, con, vợ chồng đã ly thân. Nay đề nghị HĐXX cho anh T và chị A được ly hôn. Đề nghị giao 02 con chung cho anh La Văn T được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Miễn án phí dân sự cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại bản L, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại UBND xã L, huyện C là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét thấy anh La Văn T và chị Lê Thị A kết hôn với nhau vào ngày 20 tháng 9 năm 2017 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa anh T và chị A là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh T, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Chị A là người ham mê cờ bạc, lô đề, không quan tâm tới gia đình, con cái. Tại phiên tòa chị A vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng anh T và chị A thường xuyên xảy ra mâu thuân không thể hàn gắn được, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, anh T và chị A đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa anh T và chị A mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho anh T được ly hôn với chị A.
[3] Về con chung: Anh T và chị A có 02 người con chung tên là La Bảo D, sinh ngày 26/4/2016 và La Bảo T1, sinh ngày 25/10/2017 vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi cháu D, cháu T1 và không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Chị A từ khi ly thân với anh T thì đi làm ăn xa. Như vậy nguyện vọng nuôi con của anh T là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con, đồng thời theo nguyện vọng của con trên 07 tuổi là được ở với cha khi cha mẹ ly hôn. Xem xét về điều kiện nuôi con thấy rằng anh T có đủ điều kiện để chăm sóc và giáo dục con. Mặt khác để đảm bảo sự ổn định tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống của con nên việc giao con cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu D và cháu T1, trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị A do anh T không yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự không có tài sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh La Văn T là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên miễn án phí dân sự cho nguyên đơn.
[6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh La Văn T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh La Văn T được ly hôn chị Lê Thị A.
2. Về con chung: Giao con chung La Bảo D, sinh ngày 26/4/2016 và La Bảo T1, sinh ngày 25/10/2017 cho anh La Văn T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị Lê Thị A. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Chị Lê Thị A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu chị Lê Thị A lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Anh La Văn T cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Lê Thị A trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí ly hôn dân sự sơ thẩm cho anh La Văn T. Trả lại cho anh La Văn T số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000665 ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Văn Hải |
Bản án số 142/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 142/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn La Văn Thìn - bị đơn Lê Thị Anh
