Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 12 - 2023.

V/v “Tranh chấp về hôn nhân

và gia đình về ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Châu Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phượng

2. Ông Phan Quốc Tiến

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 26/12/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 520/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 614/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đặng Thị H, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bị đơn: Trịnh Minh T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị H, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2023, chị Đặng Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Trịnh Minh T có quen biết nhau qua mai mối, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2012. Đến ngày 22/4/2014 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc có 02 con chung, nhưng thời gian sau do anh Tân thường hay uống rượu say về chửi mắng, đánh đập vợ nên vợ chồng thường xuyên cải vã. Từ đó tình cảm vợ chồng không còn, bất đồng quan điểm sống về mọi mặt nên không tự giải quyết được. Chị H và anh T đã ly thân từ năm 2020 đến nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Minh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị Ngọc V sinh ngày 09/12/2013 và Trịnh Thiên Phát sinh ngày 19/10/2016. Hiện 02 con chung đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trịnh Thị Ngọc VTrịnh Thiên P. Yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi 02 con trưởng thành theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trịnh Minh T đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, hòa giải và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm vào ngày 25/12/2023, tại đơn xin xét xử vắng mặt anh T trình bày:

- Anh T đồng ý những mâu thuẫn vợ chồng trong thời gian chung sống như chị H trình bày, nay anh đồng ý ly hôn với chị Đặng Thị H do 2 vợ chồng đã ly thân hơn 03 năm nay.

- Về con chung: anh T đồng ý để chị H tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Trịnh Thị Ngọc V sinh ngày 09/12/2013 và Trịnh Thiên Phát sinh ngày 19/10/2016. Anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

  • - Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính);
  • - Căn cước công dân Đặng Thị H (photo);
  • - Giấy khai sinh tên Trịnh Thiên P (bản sao);
  • - Trích lục khai sinh tên Trịnh Thị Ngọc V (bản sao).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị H về việc yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Minh T, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”.

[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại Ấp F, xã P, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng: Anh Trịnh M và chị Đặng Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Trịnh Minh T và chị Đặng Thị H.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Chị Đặng Thị H và anh Trịnh Minh T kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 22/4/2014 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị H yêu cầu ly hôn vì cho rằng cuộc sống hôn nhân có nhiều vấn đề xảy ra, nguyên nhân là do cả hai không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên hôn nhân không hoà hợp được. Chị H và anh T đã ly thân được 03 năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nữa, nay chị Đặng Thị H yêu cầu được ly hôn với anh Trịnh Minh T. Về phía anh T là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo của Tòa án, không có ý kiến, không tham gia các phiên họp nhưng có ý kiến trong đơn xét xin xét xử vắng mặt vào ngày 25/12/2023 là anh T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Đặng Thị H. Như vậy, có căn cứ nhận định anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị H trình bày là có thật và đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị H.

- Về nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị Ngọc V sinh ngày 09/12/2013 và Trịnh Thiên Phát sinh ngày 19/10/2016. Xét thấy, hiện nay con chung đang sống với chị H đang phát triển và được chăm sóc tốt. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như sự phát triển của cháu V và cháu P, nên việc chị H yêu cầu được nuôi cháu V và cháu P là phù hợp nên chấp nhận.

Anh Trịnh Minh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Chị H được tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn nên có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị H yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là yêu cầu phù hợp, đây là nhu cầu cấp dưỡng nuôi con cấp thiết nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H. Anh Trịnh Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng bằng 1/2 tháng lương cơ sở theo quy định pháp luật. Và thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 12/2023 cho đến khi cháu V và cháu P đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0004565 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Anh T phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Trịnh Minh T.

- Về nuôi con và cấp dưỡng: Chị Đặng Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên là Trịnh Thị Ngọc V sinh ngày 09/12/2013 và Trịnh Thiên Phát sinh ngày 19/10/2016. Anh Trịnh Minh T phải cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 1/2 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 12/2023 cho đến khi cháu V và cháu P đủ 18 tuổi.

Anh Trịnh Minh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí:

- Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0004565 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Anh Trịnh Minh T phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS HCL;
  • - CCTHADS HCL;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên tòa

Châu Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 142/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn và nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger