| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
| Bản án số: 142/2024/DS-ST | |
| Ngày: 26/8/2024 | |
| V/v: “T/c về thừa kế tài sản" |
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Như
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Hồng
Bà Nguyễn Thị Bé Em
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hoa Hạ - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lư Ngọc Thiên An- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số: 91/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 166/2024/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 222/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn:
- Ông Hoắc Vĩnh Đ, sinh năm 1974; (có mặt)
Địa chỉ: 1 N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bà Hoắc Ngọc T, sinh năm 1976; (có mặt)
Địa chỉ: E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đ, bà T: Luật sư Võ Tấn T1, sinh năm 1951 - Văn phòng luật sư Võ Tấn T1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: A N, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1954; (có mặt)
Địa chỉ: E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Huỳnh Minh T2, sinh năm 1979; địa chỉ: C ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; theo văn bản ủy quyền ngày 17/4/2024. (có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoắc Viễn V, sinh năm 1982; (vắng mặt)
Địa chỉ: E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Ông Hoắc Viễn B, sinh năm 1983; (có mặt)
- Bà Hoắc Ngọc T3, sinh năm 1985; (vắng mặt)
- Ông Hoắc Viễn H, sinh năm 1993; (có mặt)
Cùng địa chỉ: E khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Đại diện theo ủy quyền của ông B, bà T3 và ông H: Ông Huỳnh Minh T2, sinh năm 1979; địa chỉ: C ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre; theo văn bản ủy quyền ngày 17/4/2024. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2024, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 05/7/2024, bản tự khai, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Hoắc Vĩnh Đ, bà Hoắc Ngọc T trình bày:
Ông Hoắc Vĩnh T4 là cha đẻ của ông Đ, bà T. Ông T4 chết năm 2011. Cha của ông T4 là Hoắc L, sinh năm 1929 - chết năm 1992; mẹ của ông T4 là Tống Mỹ H1, sinh năm 1935 - chết năm 2019. Trước năm 1974, ông T4 sống chung với bà Lâm S (không có đăng ký kết hôn), đến năm 1979 bà Lâm S chết. Quá trình chung sống thì ông T4 và bà S có 02 con chung là Hoắc V và Hoắc Ngọc T. Đến năm 1981 thì ông T4 và bà P sống chung với nhau. Ông T4 và bà P có 04 người con chung tên Hoắc Viễn V, Hoắc V, Hoắc Ngọc T3 và Hoắc Viễn H.
Quá trình chung sống thì ông T4 và bà Lâm S không có tài sản chung. Quá trình chung sống thì ông T4 và bà P có tài sản chung là thửa đất 23 diện tích 2723m² do Uỷ ban nhân dân (sau đất viết tắt là UBND) tỉnh Bến Tre cấp cho hộ ông H2 Vĩnh Thuận ngày 06/9/2000. Đây là tài sản chung của ông T4, bà P chứ không phải tài sản chung của hộ gia đình. Nguồn gốc thửa đất này là của ông T4, bà P nhận chuyển nhượng của người khác. Vào năm 2019, ông Đ, bà T đã tiến hành khởi kiện phân chia thừa kế đối với thửa đất nêu trên tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Thời điểm này thì thì thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 đang trong quá trình bị thu hồi do thực hiện dự án Đại Lộ Đ. Tại biên bản hòa giải ngày 10/6/2020, sau khi được sự động viên giải thích của Thẩm phán, tất cả các đương sự thống nhất để bà P nhận tiền bồi thường, sau khi có số liệu chính xác về diện tích đất thì phần diện tích còn lại của thửa đất 23 bà P sẽ tiến hành chia đất cho các người con, mỗi người con được nhận 5m ngang giáp Đại lộ Đ, chiều dài hết đất. Tuy nhiên, sau khi bà P nhận tiền bồi thường xong thì ông Đ, bà T đã nhiều lần đề nghị bà P tiến hành phân chia thừa kế theo như thỏa thuận giữa đôi bên tại biên bản hòa giải năm 2020, tuy nhiên bà P lại đề nghị ông Đ, bà T để bà P đứng tên phần diện tích còn lại của thửa đất 23 sau đó mới tiến hành chia ông Đ, bà T. Không đồng ý với lời đề nghị của bà P nên nay nguyên đơn khởi kiện lại.
Năm 2022, thửa đất 23 bị thu hồi một phần với diện tích 1195,5m², phần diện tích còn lại sau khi bị thu hồi là 1527,7m². Hiện nay, diện tích còn lại của thửa đất 23 hiện do bà P quản lý, sử dụng. Căn cứ theo hồ sơ đo đạc, ông Đ, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Xác định phần di sản của ông T4 để lại là 2723m² : 2 = 1361,5m². Sau đó, nguyên đơn yêu cầu lấy phần diện tích 1361,5m² : 7 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 = 197,5m², như vậy mỗi kỷ phần thừa kế được nhận phần diện tích tương đương 197,5m². Căn cứ theo hồ sơ đo đạc, ông Đ yêu cầu được nhận thửa đất ký hiệu 23A + 23B = 187,3m², bà T yêu cầu được nhận thửa đất ký hiệu 23C + 23D = 184,9m², phần diện tích chênh lệch ông Đ, bà T không yêu cầu các đồng thừa kế còn lại hoàn lại giá trị. Ông Đ, bà T không còn yêu cầu nào khác.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoắc Viễn B, bà Hoắc Ngọc T3, ông Hoắc Viễn H cũng như ông Huỳnh Minh T2 là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ông Huỳnh Minh T2 thống nhất lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, hàng thừa kế, diện thừa kế của ông T4. Năm 2011, ông T4 chết, không để lại di chúc. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 hiện nay gồm có: bà P, ông Đ, bà T, ông V, ông B, bà T3 và ông H; ngoài ra, không còn ai khác. Thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre diện tích 2723m² do UBND tỉnh B cấp cho Hộ ông H2 Vĩnh Thuận ngày 06/9/2000 là tài sản chung của ông T4 và bà P chứ không phải là tài sản chung của của hộ gia đình, có nguồn gốc do ông T4, bà P nhận chuyển nhượng của người khác. Vào năm 2022, Nhà nước có thu hồi một phần thửa đất 23 với diện tích 1195,5m², phần diện tích còn lại sau khi thu hồi là 1527,7m². Bà P là người đã nhận số tiền bồi thường 4.511.242.000 đồng và hiện đang quản lý, sử dụng đất phần diện tích 1527,7m².
Đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của ông Đ, bà T thì bà P và các đồng thừa kế còn lại không đồng ý. Bà P cũng như ông B, bà T3 và ông H đề nghị Tòa án phân chia thừa kế như sau: 1527,7m² : 2 = 763,85m² là phần di sản thừa kế ông T4 để lại; lấy 736,85m² : 7 người thuộc hàng kế thứ nhất của ông T4 = 109,1m². Như vậy, 07 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 được nhận kỷ phần với diện tích là 109,1m². Đối với kỷ phần của bà P, ông B, bà T3 và ông H thì không đề nghị Tòa án chia trong vụ án này, gia đình sẽ tự thỏa thuận. Theo hồ sơ đo đạc, thì bà P đồng ý chia cho ông Đ, bà T thửa đất ký hiệu 23D diện tích 101,6m² và thửa đất 23B + 23C = 106,9m². Như vậy, kỷ phần của ông Đ bà T nhận ít hơn phần diện tích 109,1m², bà P và các đồng thừa kế còn lại đồng ý hoàn trả phần diện tích chênh lệch cho ông Đ, bà T trị giá bằng tiền. Bà P, ông B, bà T3 và ông H không còn yêu cầu nào khác.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoắc Viễn V trình bày:
Nguồn gốc thửa đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 tại phường P, thành phố B là tài sản chung của cha ông là ông Hoắc Vĩnh T4 và mẹ ông là bà Nguyễn Thị P, chứ không phải là tài sản chung của hộ gia đình. Đối với kỷ phần thừa kế mà ông được nhận liên quan đến thửa đất 23 thì ông không yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án này, kỷ phần thừa kế mà ông được nhận sẽ được nhập chung với bà P, ông B, bà T3, ông H, gia đình ông tự thỏa thuận, tách thửa sau khi có bản án/quyết định có hiệu lực của Tòa án. Tóm lại, ông không yêu cầu được chia thừa kế trong vụ án này. Do bận công việc đi làm, ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông trong quá trình giải quyết toàn bộ vụ án.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Ông Hoắc Vĩnh Đ trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung. Di sản ông Hoắc Vĩnh T4 để lại là phần tài sản của ông Hoắc Vĩnh T4 trong tài sản chung với bà Nguyễn Thị P, cụ thể là thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 1527,7m² toạ lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre do UBND tỉnh B cấp cho Hộ ông Hoắc Vĩnh T4 vào ngày 06/9/2000. Đây là tài sản chung của ông T4 và bà P, chứ không phải là tài sản chung của hộ gia đình. Nay, ông đề nghị được chia thừa kế là thửa đất ký hệu 23A + 23B = 187,3m². Căn nhà trên thửa đất 23 diện tích 353,1m² ông không tranh chấp, không yêu cầu chia thừa kế. Ông thống nhất sử dụng kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024, kết quả định giá ngày 07/5/2024 và hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 để làm cơ sở giải quyết vụ án. Ông không còn yêu cầu nào khác.
Bà Hoắc Ngọc T trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ nêu trên về nguồn gốc thửa đất 23 tờ bản đồ số 50. Bà yêu cầu được chia thừa kế là thửa đất ký hiệu: thửa 23C + 23D = 184,9m². Căn nhà trên thửa đất 23 diện tích 353,1m² bà không tranh chấp, không yêu cầu chia thừa kế. Bà thống nhất sử dụng kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024, kết quả định giá ngày 07/5/2024 và hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 để làm cơ sở giải quyết vụ án. Bà không còn yêu cầu nào khác.
Luật sư Võ Tấn T1 trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm thời điểm ông T4 chết là năm 2011, thời điểm này thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 có diện tích 2723m². Căn cứ khoản 2 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định di sản của ông T4 để lại là ½ diện tích đất 2723m² tức là 1361,5m². Bị đơn căn cứ vào thời điểm hiện tại để xác định di sản của ông T4 để lại là 1527,7m² : 2 = 736,85m² là không hợp lý, như vậy phần số tiền bồi thường của phần diện tích đất 1195,5m² mà bà P đã nhận là của ai. Tại biên bản hoà giải ngày 10/6/2020 tại Toà án nhân dân thành phố Bến Tre các bên đã thoả thuận là bà P nhận tiền bồi thường, sau đó chia cho mỗi người con 5m vuông ngang, chiều dài hết đất, phần diện tích còn lại của bà P. Mặc dù, thoả thuận nêu trên chưa được Toà án ban hành quyết định công nhận thoả thuận nhưng thực tế các bên đã thực hiện, bà P đã nhận tiền và phần diện tích còn lại sau khi bồi thường là 1527,7m². Ông Đ, bà T nhiều lần yêu cầu bà P chia đất sau khi nhận tiền bồi thường nhưng bà P không đồng ý và còn đề nghị để bà P đứng tên quyền sử dụng đất sau đó bà mới chia lại cho ông Đ, bà T. Tại phiên toà hôm nay, bà P cũng thừa nhận có đề nghị với ông Đ, bà T vấn đề này. Như vậy, chính bà P là người đã không thực hiện theo như thoả thuận giữa đôi bên theo như biên bản hoà giải. Đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xác định di sản thừa kế của ông T4 để lại là 1361,5m² trong 1527,7m² phần diện tích còn lại. Ông Đ được nhận phần diện tích 187,3m², bà T được nhận phần diện tích 184,9m² và tài sản gắn liền với đất. Đối với phần diện tích có chênh lệch so với kỷ phần thừa kế 197,5m², nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ông Huỳnh Minh T2, bà Nguyễn Thị P, ông Hoắc Viễn B, ông Hoắc Viễn H trình bày: Bị đơn cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận về nguồn gốc đất thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 là tài sản chung của vợ chồng ông T4 và bà P, chứ không phải là tài sản chung của hộ gia đình. Trước đây, ông Đ bà T có tiến hành khởi kiện phân chia thừa kế đối với thửa đất nêu trên. Tại biên bản hoà giải ngày 10/6/2020 các bên đã thống nhất với nhau một số nội dung, tuy nhiên ông không thừa nhận tính pháp lý của biên bản hoà giải ngày 10/6/2020 vì theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nếu các đương sự hoà giải thành thì phải được Toà án ban hành bằng một quyết định công nhận thoả thuận có hiệu lực pháp luật. Do đó, biên bản hoà giải ngày 10/6/2020 chỉ mang tính chất tham khảo. Nay, bà P chỉ đồng ý chia cho ông Đ, bà T phần diện tích 101,6m² và 106,9m² theo hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024. Phần diện tích chênh lệch (thấp hơn kỷ phần 109,1m²) thì bà P và các đồng thừa kế còn lại đồng ý hoàn lại giá trị bằng tiền cho ông Đ, bà T. Đối với số tiền bồi thường bà P đã nhận là 4.511.242.000 đồng thì bà P và các đồng thừa kế còn lại thống nhất trong đây có tiền là di sản thừa kế của ông T4 để lại. Phía bà P là người nhận và quản lý sử dụng số tiền này, bà P đồng ý chia cho ông Đ bà T nếu có yêu cầu. Tuy nhiên, trong đơn khởi kiện cũng như tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chỉ yêu cầu nhận đất, do đó việc giải quyết số tiền bồi thường sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác. Ông thống nhất sử dụng kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024, kết quả định giá ngày 07/5/2024 và hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 để làm cơ sở giải quyết vụ án. Bà P, ông B, bà T3 và ông H không còn yêu cầu nào khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 612, 613, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoắc Vĩnh Đ, bà Hoắc Ngọc T, cụ thể: ông Đ, bà T mỗi người được nhận số tiền 322.232.000 đồng là tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư một phần thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; ông Đ được nhận kỷ phần thừa kế phần đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 23B + 23C diện tích 106,9m²; bà T được nhận kỷ phần thừa kế là phần đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 23D diện tích 101,6m². Các đồng thừa kế còn lại gồm bà P, ông V, ông B, bà T3 và ông H có nghĩa vụ hoàn lại giá trị chênh lệch phần diện tích bị thiếu cho ông Đ, bà T. Chi phí tố tụng và án phí thực hiện theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2024 (BL05) và đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề ngày 05/7/2024 (BL229), nguyên đơn ông Hoắc Vĩnh Đ và bà Hoắc Ngọc T yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản là quyền tài sản theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 2723m² tại phường P, thành phố B do UBND tỉnh B cấp cho Hộ ông H2 Vĩnh Thuận đứng tên quyền sử dụng đất ngày 06/9/2000 (BL08, 09). Ông Đ và bà T xác định di sản thừa kế của ông T4 để lại là ½ quyền tài sản thuộc thửa đất nêu trên. Căn cứ khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là "tranh chấp về thừa kế tài sản".
Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác cho cơ quan đại diện N ở nước ngoài, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân cấp huyện. Bị đơn bà Nguyễn Thị P có nơi cư trú tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre đồng thời thửa đất tranh chấp toạ lạc tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Bến Tre có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoắc Viễn V có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (BL222). Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông V.
Về việc áp dụng pháp luật để giải quyết: Ông Hoắc Vĩnh T4 và bà Nguyễn Thị P kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 10/12/1981 tại UBND phường B1, thị xã B (BL112), đến năm 2011 ông T4 chết (BL15). Thửa đất thửa 23 tờ bản đồ sồ 50 do UBND tỉnh B cấp cho Hộ ông H2 Vĩnh Thuận ngày 06/9/2000, như vậy thửa đất này được cấp trong thời kỳ hôn nhân nhân giữa ông T4 và bà P. Từ các dữ liệu nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Bộ luật Dân sự năm 2005 để xác định di sản thừa kế, hàng thừa kế, diện thừa kế của ông T4; về cách thức chia di sản thừa kế Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết.
Về chứng cứ: Quá giải quyết vụ án, các đương sự đều trình bày thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/5/2024, kết quả định giá ngày 07/5/2024, hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ này và các chứng cứ khác có liên quan để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[2] Về nguồn gốc, quá trình biến động và hiện trạng thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 2723m² tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre:
[2.1] Nguồn gốc đất: Theo hồ sơ quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cung cấp thì thửa đất 23 do UBND tỉnh B cấp cho Hộ ông T4 đứng tên quyền sử dụng đất vào ngày 06/9/2000 có nguồn gốc do ông T4 và vợ bà P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người khác. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, tất cả các đương sự gồm ông Đ, bà T, bà P, ông V, ông B, bà T3 và ông H đều trình bày thống nhất nguồn gốc thửa đất nêu trên là ông T4 và vợ bà P nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người khác, đây là tài sản chung của ông T4 và bà P chứ không phải là tài sản chung của “Hộ gia đình”. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 là tài sản chung của ông T4 và bà P.
[2.2] Quá trình biến động và hiện trạng thửa đất 23:
- Ngày 06/9/2000, hộ ông Hoắc Vĩnh T4 được UBND tỉnh B cấp quyền sử dụng đất thửa đất diện tích 2723m².
- Năm 2022, thửa đất 23 bị thu hồi một phần với diện tích 1195,5m² để xây dựng tuyến đường Đại lộ Đ thuộc dự án mở rộng nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố B, tỉnh Bến Tre (đoạn từ Nguyễn H3 đến đường D) với số tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư là 4.511.242.000 đồng (BL131). Bà Nguyễn Thị P thừa nhận bà là người nhận số tiền bồi thường nêu trên (BL105).
- Phần diện tích còn lại sau khi bị thu hồi là 1527,7m² vẫn do hộ ông H2 Vĩnh Thuận đứng tên, hiện do bà Nguyễn Thị P quản lý, sử dụng, có hiện trạng như sau:
- Cây trồng: 29 cây dừa đang cho trái; 10 cây dừa chưa cho trái; 01 cây cau; 01 cây ổi; 1 cây bưởi; 01 cây xoài.
- Vật kiến trúc: Nhà cột dầm bê tông cốt thép, xây tường bao ngăn phòng, nền lát gạch ceramic, mái tole tráng kẽm có diện tích 353,1m².
[3] Di sản thừa kế và hàng thừa kế:
[3.1] Di sản thừa kế: Như đã phân tích tại đoạn [2], thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 2723m² tại xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre là tài sản chung của ông T4 và bà P. Tại phiên toà, bà P trình bày trong thời kỳ hôn nhân thì giữa bà và ông T4 không có lập văn bản thoả thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng đối với thửa đất nêu trên. Như vậy, di sản thừa kế ông T4 để lại là ½ diện tích đất và tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên. Riêng đối với căn nhà có trên thửa đất với diện tích 353,1m² theo hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 tất cả các đương sự đều không tranh chấp, không đề nghị chia thừa kế, căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết đối với căn nhà nêu trên. Mặt khác, sau khi ông T4 chết thì năm 2022 UBND thành phố B có Quyết định số 2307/QĐ-UBND ngày 31/5/2022 về việc thu hồi đất một phần thửa đất 23 để xây dựng tuyến đường đại lộ Đ, diện tích bị thu hồi là 1195,5m², số tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư do Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố lập cho ông H2 Vĩnh Thuận với số tiền 4.511.242.000 đồng. Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005 và áp dụng tương tự án lệ số 34/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020, được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định di sản thừa kế của ông Hoắc Vĩnh T4 để lại là:
- ½ số tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư của thuộc một phần thửa đất 23, cụ thể: (4.511.242.000 đồng : 2) = 2.255.621.000 đồng.
Đối với số tiền bồi thường hỗ trợ di dời mộ là 251.937.000 đồng (BL136), xét đây là chi phí Nhà nước hỗ trợ người dân di dời mộ, chứ không phải tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư, người nhận tiền này phải thực hiện việc lập lại mộ cho phù hợp theo tập quán, phong tục địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xác định số tiền 251.937.000 đồng không được xem là di sản thừa kế của ông T4.
- ½ phần diện tích còn lại của thửa đất 23 tờ bản đồ số 50, cụ thể: (1527,7m² : 2) = 763,85m² tương đương số tiền 19.096.250.000 đồng và ½ tài sản gắn liền với thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 1527,7m² tương đương số tiền là (56.644.000 : 2) = 28.322.000 đồng. Như vậy, giá trị đất và tài sản gắn liền với đất tương đương số tiền là 19.124.572.000 đồng.
Tại phiên toà, các đương sự đều trình bày thống nhất ngoài thửa đất 23 thì ông T4 không còn để lại di sản nào khác, do đó Hội đồng xét xử chỉ giải quyết phân chia thừa kế là di sản của ông T4 trong phạm vi thửa đất 23. Các đương sự đều trình bày thống nhất ông T4 chết năm 2011, đăng ký khai tử tại UBND phường P (BL15), trước khi chết ông T4 không để lại di chúc. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015, di sản thừa kế nêu trên được chia theo pháp luật.
[3.2] Về hàng thừa kế, diện thừa kế: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã ban hành thông báo giao nộp tài liệu chứng cứ yêu cầu các đương sự cung cấp chứng cứ chứng minh hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoắc Vĩnh T4. Các đương sự cung cấp thông tin như sau: Cha của ông T4 là Hoắc L, sinh năm 1929 - chết năm 1992; mẹ của ông T4 là Tống Mỹ H1, sinh năm 1935 - chết năm 2019. Ông T4 có vợ đầu là Lâm Sĩ (chết năm 1979 do vượt biên, ông T4 bà S không có đăng ký kết hôn), ông T4 và bà S có 02 người con chung là Hoắc V, Hoắc Ngọc T. Sau khi bà S chết thì ông T4 đăng ký kết hôn với bà P vào năm 1981. Ông T4 và bà P có 04 người con tên Hoắc Viễn V, Hoắc V, Hoắc Ngọc T3 và Hoắc Viễn H. Căn cứ lời trình của các đương sự, các chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn, trích lục khai tử do đương sự cung cấp, đối chiếu Điều 635 và điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, Hội đồng xét xử xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoắc Vĩnh T4 gồm 07 người, cụ thể: bà Nguyễn Thị P (vợ); Hoắc Vĩnh Đ, Hoắc Ngọc T, Hoắc Viễn V, Hoắc V, Hoắc Ngọc T3 và Hoắc Viễn H.
[4] Phân chia thừa kế:
Khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”. Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: " ...Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia..." Đối chiếu quy định nêu trên, căn cứ vào phân tích tại đoạn [3] Hội đồng xét xử phân chia thừa kế như sau:
[4.1] Đối với số tiền bồi thường, phần di sản của ông T4 để lại là số tiền 2.255.621.000 đồng. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T4 gồm 07 người, như vậy kỷ phần thừa kế mỗi người được nhận là: 2.255.621.000 đồng : 7 = 322.232.000 đồng (làm tròn số). Số tiền bồi thường bà P đã nhận toàn bộ và hiện đang quản lý toàn bộ số tiền này. Do đó, bà P có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đ, bà T mỗi người với số tiền là 322.232.000 đồng.
[4.2] Đối với phần diện tích còn lại thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 với diện tích 1527,7m² và tài sản gắn liền với đất:
Như đã phân tích tại đoạn [3.1], phần di sản của ông T4 để lại là 763,85m² đất, tương đương số tiền 19.096.250.000 đồng (mỗi kỷ phần được nhận diện tích 763,85m²: 7 = 109,6m²) và ½ tài sản gắn liền với thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 diện tích 1527,7m², tương đương số tiền là 28.322.000 đồng. Như vậy, giá trị kỷ phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mỗi người thừa kế được nhận tương đương số tiền là: [19.096.250.000 đồng + 28.322.000 đồng] : 7 = 2.732.082.000 đồng.
Tại phiên toà, bị đơn bà Nguyễn Thị P cũng như đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý chia đất và tài sản gắn liền với đất cho các nguyên đơn theo vị trí thể hiện tại hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 gồm thửa đất ký hiệu 23D diện tích 101,6m² và thửa đất ký hiệu 23B + 23C = 106,9m². Diện tích mà bị đơn đồng ý chia cho nguyên đơn cũng tương đương với phần diện tích mà nguyên đơn được nhận thừa kế nên thấy có cơ sở xác định kỷ phần mà ông Đ, bà T được xác định như sau:
- Căn cứ theo hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024, phần đất ông Đ được chia như sau: hiện vật là thửa đất ký hiệu 23B diện tích 23,6m² và thửa đất ký hiệu 23C diện tích 83,3m² và tài sản gắn liền với đất thửa đất 23B, 23C. Như vậy, tổng giá trị phần tài sản ông Đ yêu cầu được nhận hiện vật là 106,9m² (trị giá 2.672.500.000 đồng) + tài sản gắn liền với đất (1 cây dừa cho trái trị giá 1.650.000 đồng) = 2.674.150.000 đồng. Như vậy, các đồng thừa kế còn lại là bà P, ông V, ông B, bà T3, ông H có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho ông Đ số tiền là (2.732.082.000 đồng - 2.674.150.000 đồng) = 57.932.000 đồng.
- Căn cứ theo hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024, phần đất bà T được chia như sau: hiện vật là thửa đất ký hiệu 23D diện tích 101,6m² và tài sản gắn liền với đất thửa đất 23D. Như vậy, tổng giá trị phần tài sản bà T yêu cầu được nhận là 101,6m² (trị giá 2.540.000.000 đồng) + tài sản gắn liền với đất (03 cây dừa cho trái, 05 cây dừa chưa cho trái, 01 cây cau, 02 cây ổi trị giá 8.063.000 đồng) = 2.548.063.000 đồng. Như vậy, các đồng thừa kế còn lại là bà P, ông V, ông B, bà T3, ông H có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho bà T số tiền là 2.732.082.000 đồng - 2.548.063.000 đồng = 184.019.000 đồng.
[4.3] Phần diện tích còn lại của thửa đất 23 là thửa đất ký hệu 23E diện tích 1155,5m² và tài sản gắn liền với đất theo hồ sơ đo đạc ngày 05/8/2024 thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị P, ông V, ông B, ông T3, ông H. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà các đương sự đều thống nhất không chia thừa kế trong vụ án này, tự thoả thuận giải quyết. Xét đây là ý chí tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Trường hợp sau này bà P ông V, ông B, bà T3 và ông H có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[4.4] Tại phiên toà, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng phần di sản của ông T4 để lại là 1361,5m²/1527,7m² phần diện tích còn lại của thửa đất 23 tờ bản đồ số 50. Xét thấy, thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng ông T4 bà P, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh giữa ông T4 và bà P đã có thoả thuận về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đối với thửa đất 23, cụ thể có hồ sơ đo đạc xác định phần tài sản ông T4 được chia là 1361,5m². Hơn nữa, việc thu hồi một phần thửa đất 23 được thực hiện vào năm 2022 (sau khi ông T4 chết). Do đó, lời trình bày nêu trên của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[4.5] Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày thừa nhận số tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư thửa đất 23 với số tiền 4.511.242.000 đồng có một phần là di sản của ông T4. Tuy nhiên, đại diện theo uỷ quyền của bị đơn đề nghị Toà án không giải quyết số tiền bồi thường trong vụ án này vì cho rằng nguyên đơn chỉ yêu cầu nhận đất, không yêu cầu nhận tiền, không nằm trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị giải quyết bằmg vụ án khác. Lời trình bày này của đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là không phù hợp bởi lẽ theo đơn khởi kiện ban đầu cũng như đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung thì nguyên đơn đều xác định di sản thừa kế của ông T4 để lại là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 23, cụ thể ½ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 và đề nghị chia thừa kế theo pháp luật căn cứ theo diện tích đất ban đầu được cấp; như vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là nhận hiện vật, nhận đất lớn hơn phần chia giá trị bằng tiền. Do đó, việc giải quyết chia thừa kế cho nguyên đơn phần tiền bồi thường là không vượt quá phạm vi khởi kiện theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Chi phí thu thập chứng cứ với số tiền 12.810.000 đồng, ông Đ và bà T đã nộp tạm ứng chi phí này. Ông Đ, bà T có nghĩa vụ chịu số tiền 3.250.000 đồng tương ứng với với kỷ phần thừa kế mà ông, bà được nhận. Bà P có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đ, bà T số tiền 9.560.000 đồng.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, ông Đ và bà T mỗi người có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà ông Đ, bà T được chia (3.054.314.000 đồng) với số tiền là 93.086.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 634, Điều 635, điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Điều 650, 651 Bộ Luật Dân sự năm 2015;
- Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1989;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013;
- Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoắc Vĩnh Đ, cụ thể như sau:
1.1. Ông Hoắc Vĩnh Đ được chia thừa kế thửa đất ký hiệu 23B + 23C = 106,9m² (một trăm linh sáu phẩy chín mét vuông) thuộc một phần thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đồng thời, ông Hoắc Vĩnh Đ được toàn quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với thửa đất 23B và 23C nêu trên. (có hoạ đồ kèm theo)
1.2. Bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Hoắc Vĩnh Đ số tiền là 322.232.000 (ba trăm hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.3. Bà Nguyễn Thị P, ông Hoắc Viễn V, ông Hoắc Viễn B, bà Hoắc Ngọc T3, ông Hoắc Viễn H có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho ông Hoắc Vĩnh Đ số tiền 57.932.000 (năm mươi bảy triệu chín trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoắc Ngọc T, cụ thể như sau:
2.1. Bà Hoắc Ngọc T được chia thừa kế thửa đất ký hiệu 23D diện tích 101,6m² (một trăm linh một phẩy sáu mét vuông) thuộc một phần thửa đất 23 tờ bản đồ số 50 tại phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đồng thời, bà Hoắc Ngọc T được toàn quyền sở hữu đối với tài sản gắn liền với thửa đất 23D nêu trên. (có hoạ đồ kèm theo)
2.2. Bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Hoắc Ngọc T số tiền là 322.232.000 (ba trăm hai mươi hai triệu hai trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.3. Bà Nguyễn Thị P, ông Hoắc Viễn V, ông Hoắc Viễn B, bà Hoắc Ngọc T3, ông Hoắc Viễn H có nghĩa vụ liên đới hoàn lại cho bà Hoắc Ngọc T số tiền 184.019.000 (một trăm tám mươi bốn triệu không trăm mười chín nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Chi phí thu thập chứng cứ với số tiền 12.810.000 (mười hai triệu tám trăm mười nghìn) đồng, ông Hoắc Vĩnh Đ và bà Hoắc Ngọc T đã nộp tạm ứng chi phí này. Ông Hoắc Vĩnh Đ và bà Hoắc Ngọc T có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền 3.250.000 (ba triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng. Bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Hoắc Vĩnh Đ và bà Hoắc Ngọc T số tiền 9.560.000 (chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn)đồng.
4. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Hoắc Vĩnh Đ có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 93.086.000 (chín mươi ba triệu không trăm tám mươi sáu nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.725.000 (chín triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004313 ngày 22/3/2024 và số tiền 46.615.000 (bốn mươi sáu triệu sáu trăm mười lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002699 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Như vậy, ông Hoắc Vĩnh Đ có nghĩa vụ nộp tiếp số tiền còn lại là 36.746.000 (ba mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi sáu nghìn) đồng.
Bà Hoắc Ngọc T có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 93.086.000 (chín mươi ba triệu không trăm tám mươi sáu nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 9.725.000 (chín triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004312 ngày 22/3/2024 và số tiền 46.590.000 (bốn mươi sáu triệu năm trăm chín mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002698 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Như vậy, bà Hoắc Ngọc T có nghĩa vụ nộp tiếp số tiền còn lại là 36.771.000 (ba mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Huỳnh Thị Thanh Như |
Bản án số 142/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 142/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật
