|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/DS- ST
Ngày: 25/9/2024
Về việc: Chia tài sản chung;
Tuyên bố di chúc vô hiệu;
Yêu cầu chia di sản thừa kế;
Yêu cầu Huỷ Giấy chứng nhận QSD đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đình Tỵ
2. Bà Nguyễn Thị Mai Hoa
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/DSST ngày 12/6/2024 về việc “Chia tài sản chung; Tuyên bố di chúc vô hiệu; Yêu cầu chia di sản thừa kế và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-DS ngày 30/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 108 /2024/QĐST-DS ngày 18/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1956 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988(Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976.
- Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976;
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1984.
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Làng L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị H1 là:
Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1986 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1999
Người đại diện theo pháp luật của anh T2: Bà Hoàng Thị N (Mẹ đẻ)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
(Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T2: Bà Nguyễn Thị Q - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.
Địa chỉ: Đại lộ L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
(Có mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Phố Đạo Sơn, thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh H2 - Chức vụ: Chủ tịch
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Lê Thị H3 - Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Xã Hoằng Tân, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đức N2 - Chức vụ: Chủ tịch.
- Văn phòng C (nay là VPCC Lê Thị Hiền), tỉnh Thanh Hoá
Địa chỉ: Thôn Đình Bảng, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị H3 - Trưởng văn phòng.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện và tại phiên toà, nguyên đơn bà Hoàng Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Đ kết hôn năm 1973 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Ông bà có 08 người con chung gồm: Chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1976), chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1976), chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1980), chị Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1982), chị Nguyễn Thị P (sinh năm 1984), chị Nguyễn Thị S (sinh năm 1986), chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1988) và anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1999).
Vợ chồng bà có khối tài sản chung là Quyền sử dụng thửa đất số 77 tờ bản đồ số 04 (E_48_08_257_d) bản đồ địa chính xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa đo vẽ năm 1996, diện tích 574,8m² tại thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162 được UBND huyện H,
tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N.
Ngoài ra, ngày 05/8/1995, gia đình bà được Nhà nước giao tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 4.408m², tại các thửa đất số: Thửa 468, 469, 607, 624 và 634 tờ bản đồ số 01; thửa 286 tờ bản đồ số 03, Bản đồ địa chính xã H. Toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp này được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ. Bà thấy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của tất cả các thành viên gia đình cho cá nhân ông Đ là không đúng quy định của pháp luật mà phải cấp cho hộ gia đình mới đúng.
Ngày 23/9/2015, ông Nguyễn Văn Đ lập di chúc định đoạt tài sản của ông Đ trong khối tài chung vợ chồng là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 mang tên ông Nguyễn Văn Đ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 với nội dung: “Sau khi tôi chết vợ tôi là bà Hoàng Thị N có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt phần tài sản của tôi trong khối tài sản nói trên. Với nguyện ý vợ tôi phải chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị bệnh cho con trai tôi là Nguyễn Văn T2. Thờ cũng tổ tiên, sau này khi già yếu giao lại tài sản cho con trai là Nguyễn Văn T2 (Nếu ông T2 có con thì con ông T2 sẽ được hưởng phần tài sản này. Trong trường hợp ông T2 không có con thì phần tài sản này sẽ làm nhà thờ cho dòng họ Nguyễn V .... không được mua bán chuyển nhượng).
Mọi hoạt động quản lý và chi tiêu tài sản của tôi sau khi tôi chết giao cho cháu tôi là ông Nguyễn Văn T là người giám hộ”.
Cùng ngày lập di chúc (ngày 23/9/2015), ông Nguyễn Văn Đ chết. Sau khi ông Đ chết, bà và các con họp gia đình chia di sản thừa kế do ông Đ để lại, nhưng không chia được vì phát hiện nội dung di chúc của ông Đ lập ngày 23/9/2015 là trái quy định của pháp luật. Cụ thể:
- Thứ nhất: Ông Đ đã định đoạt trong di chúc toàn bộ tài sản là quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của gia đình bà, trong đó có phần của các con mà không hề nhắc gì tới các con.
- Thứ hai: Tài sản ông Đ định đoạt trong di chúc có một phần không phải là tài sản của vợ chồng là thửa số 72, tờ bản đồ số 4, là tài sản của ai thì bà không rõ.
- Thứ ba: Di chúc định đoạt cho bà có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt phần tài sản của ông Đ trong khối tài sản chung vợ chồng, nhưng lại ràng buộc sự tự định đoạt của bà, cụ thể: con trai bà là Nguyễn Văn T2 bị tàn tật, không thể tự chăm sóc bản thân được, bà là người hàng ngày vẫn chăm sóc, thuốc men cho con. Ông Đ định đoạt cho bà được thừa kế tài sản của ông Đ, và được định đoạt tài sản này nhưng lại hạn chế sự định đoạt của bà. Cụ thể không cho sử dụng vào việc khác và cũng không cho mua bán, chuyển nhượng. Bên cạnh đó lại giao cho anh T giám hộ mọi hoạt động quản lý và chi tiêu phần tài sản của ông Đ để thừa kế lại cho bà trong khi bà hoàn toàn khỏe mạnh.
Bà N yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định tài sản của bà Hoàng Thị N trong khối tài sản chung vợ chồng là
½ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006. Tài sản trên đất là nhà cấp 4, diện tích xây dựng 50m².
- Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hoá; Số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do vi phạm pháp luật.
- Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ trong khối tài sản chung vợ chồng là ½ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H 00181 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; được UBND huyện H cấp ngày 22/9/2006. Tài sản trên đất là nhà cấp 4, diện tích xây dựng 50m².
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623; Vào sổ cấp giấy chứng nhận số 348/QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ. Lý do: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của tất cả các thành viên gia đình cho cá nhân ông Đ là không đúng quy định của pháp luật.
- Đề nghị công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ. Diện tích thực tế còn lại của gia đình (theo hồ sơ đổi điền dồn thửa lần 3 năm 2017 lưu tại UBND xã H) là thửa LUC 35, LUC 36, LUC 37 diện tích 2.258 m² tại xứ đồng Đ Trên. Đề nghị tuyên bà N và các con có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận theo quy định đối với phần đất nông nghiệp này.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà Hoàng Thị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623; Vào sổ cấp giấy chứng nhận số 348/QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H thống nhất với trình bày của bà Hoàng Thị N về quan hệ huyết thống trong gia đình. Bố chị là ông Nguyễn Văn Đ, chết ngày 23/9/2015. Bố mẹ chị có 08 người con chung gồm: Chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1976), chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1976), chị Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1980), chị Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1982), chị Nguyễn Thị P (sinh năm 1984), chị Nguyễn Thị S (sinh năm 1986), chị Nguyễn Thị H (sinh năm 1988) và anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1999).
Ngày 23/9/2015, bố chị lập di chúc định đoạt toàn bộ tài sản của ông Đ trong khối tài chung là quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hoá; Số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD.
Chị H không đồng ý với nội dung của di chúc là để ông Nguyễn Văn T là người giám hộ mọi hoạt động quản lý và chi tiêu tài sản của bố chị sau khi chết. Đề nghị Toà án tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Đức L1 ngày 23/9/2025 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hoá; Số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu do vi phạm pháp luật.
Về đất ở: Chị H đề nghị chia di sản thừa kế của ông Đ theo pháp luật. Phần di sản thừa kế mà chị được hưởng, chị H tặng cho mẹ đẻ chị là bà Hoàng Thị N. Đối với các tài sản trên đất, giao cho bà Hoàng Thị N sử dụng, thu hoạch cây cối, không yêu cầu bà N phải trả tiền trị giá tài sản.
Đối với đất nông nghiệp: Đề nghị công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N1 thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thống nhất hàng thừa kế của ông Đ như bà N đã trình bày.
Đối với đất ở: Các chị đều thống nhất chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại theo pháp luật. Các chị đều tự nguyện tặng phần di sản thừa kế mà mình được hưởng cho mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N. Đối với các tài sản trên đất, các đồng thừa kế giao cho bà Hoàng Thị N sử dụng, thu hoạch cây cối, không yêu cầu bà N phải trả tiền trị giá tài sản.
Đối với đất nông nghiệp: Đề nghị công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Đức T3 trình bày:
Đồng ý với nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N. Đồng ý chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại theo pháp luật.
Về nội dung giao cho ông Nguyễn Văn T là người giám hộ đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa và Ủy ban nhân dân xã H, huyện H đều trình bày ý kiến như sau:
1. Về nội dung: Giấy chứng nhận QSD đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ hay cấp cho các thành viên hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ ?.
Căn cứ theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về giao đất sản xuất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân; theo đó hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ gồm 9 khẩu nông nghiệp được giao ruộng (gồm ông Đ, bà N
(vợ ông Đ) và 07 người con), với tổng diện tích được giao là 4.408,0 m². Vì vậy, GCNQSD đất số G 312623 do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ là cấp cho hộ gia đình.
2. Về nội dung: Giấy chứng nhận QSD đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ ghi mục đích sử dụng: sản xuất nông nghiệp; thời hạn sử dụng đến tháng 6/2015 hiện còn giá trị pháp lý hay không? Ông Đ có được gia hạn thời hạn sử dụng đất hay chuyển đổi mục đích sử dụng đất không? diện tích hiện nay?
Căn cứ Khoản 2, Điều 74, Nghị định 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao, công nhận, nhận chuyển quyền sử dụng đất, khi hết thời hạn sử dụng đất thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 126 và Khoản 3 Điều 210 của Luật Đất đai mà không phải làm thủ tục điều chỉnh thời hạn sử dụng đất; theo đó đối với các thửa đất nông nghiệp của hộ gia đình ông Đ đã hết hạn sử dụng từ tháng 6/2015 nhưng hộ gia đình ông Đ được tiếp tục sử dụng đất. Tuy nhiên, từ năm 1995 đến nay, xã H đã thực hiện 03 lần đổi điền dồn thửa nên vị trí, diện tích các thửa đất theo GCN đã cấp năm 1995 không còn đúng với hiện trạng sử dụng của hộ gia đình ông Đ. Mặt khác, hộ gia đình ông Đ đã chuyển 03 khẩu đất nông nghiệp của con gái về nhà chồng (trong đó: 02 khẩu chuyển vào năm 2001 và 01 khẩu chuyển năm 2017) và năm 2021 hộ gia đình ông Đ đã bị thu hồi 540,0 m² đất để thực hiện dự án quy hoạch đất ở nông thôn (tại Quyết định số 589/QĐ-UBND ngày 3/3/2023 của UBND huyện H).
Vì vậy, diện tích thực tế còn lại của gia đình ông Đ (theo hồ sơ đổi điền dồn thửa lần 3 năm 2017 lưu tại UBND xã H) là 2.258 m².
3. Về nội dung: Hiện nay, ai là người có quyền sử dụng hợp pháp các thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này?
Đất sản xuất nông nghiệp được nhà nước giao cho các khẩu nông nghiệp trong hộ gia đình theo định mức. Vì vậy, các thành viên (những người có khẩu nông nghiệp được giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ) trong hộ ông Đ và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ (do ông Đ đã chết) có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ.
4. Về nội dung: Ai là người thực hiện nghĩa vụ tài chính (nộp thuế đất hàng năm) đối với thửa đất này. Nhà nước không thu thuế đất nông nghiệp hàng năm đối với các thửa đất sản xuất nông nghiệp.
5. Về nội dung: Cung cấp cho Toà án bản sao hồ sơ, tài liệu liên quan đến thủ tục cấp giấy chứng nhận QSD đất của các thửa đất này?
Ngoài những thông tin trên xã không còn hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận QSD đất; đối với hồ sơ cấp GCNQSD đất của ông Nguyễn
Văn Đ từ năm 1995, đến nay đã 29 năm, trong quá trình lưu trữ kho trước đây bảo quản không tốt và xã đã nhiều lần chuyển kho lưu trữ, hiện nay xã không còn hồ sơ lưu trữ. UBND xã H tham gia ý kiến trên để Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xem xét, giải quyết vụ án.
Văn phòng C (nay là VPCC L) trình bày:
Căn cứ Quyết định về việc yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến hồ sơ công chứng số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP-CC-SCC/HĐDG do Văn phòng C (nay là văn phòng C1) chứng nhận ngày 23/9/2015. Văn phòng C1 trả lời như sau:
Đối với hồ sơ công chứng, do quá trình văn phòng chuyển trụ sở làm việc nên hồ sơ lưu trữ đã bị thất lạc, vì vậy Văn phòng C1 thông báo lại cho Toà án có cơ sở giải quyết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 là vô hiệu, Văn phòng C1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đồng thời Văn phòng C1 có đơn xin giải quyết vắng mặt tại Tòa án .
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án Định giá tài sản tranh chấp và Xem xét thẩm định tại chỗ.
Tại kết quả thẩm định giá của Công ty cổ phần T6 và giám định Tiên Phong xác định: Đối với Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04 tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162; số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N. Diện tích đo thực tế là 574,8m² gồm:
Giá trị quyền sử dụng đất ở là 513m² x 5.624.000đ/m² = 2.885.112.00₫
Giá trị quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm là 61,8m² x 27.000đ/m² = 1.668.600đ.
Tổng cộng: 2.886.781.000₫ (Hai tỷ, tám trăm tám mươi tám triệu, bảy trăm tám mươi mốt ngàn đồng).
Các tài sản trên đất xây dựng năm 1980, đã cũ gồm: 01 nhà cấp 4 mái ngói, 01 nhà bếp, chuồng chăn nuôi, nhà vệ sinh và các cây trồng khác các đương sự thống nhất không yêu cầu định giá.
Hiện tại, đất và tài sản trên đất nói trên đang do bà Hoàng Thị N quản lý, sử dụng, không có giao dịch chuyển nhượng, tặng cho và không có tranh chấp với các hộ liền kề.
Các đương sự thống nhất với hiện trạng công trình trên đất, thống nhất về giá và không có ý kiến gì đối với kết quả định giá tài sản.
Tại Biên bản hoà giải ngày 20/8/2024, các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ đã thống nhất nội dung sau:
1. Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ trong khối tài sản chung vợ chồng là ½ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H 00181 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; được UBND huyện H cấp ngày 22/9/2006. Tài sản trên đất là nhà cấp 4, bếp, chuồng chăn nuôi, công trình phụ và cây trồng như sau:
Thống nhất trích công sức cho bà Hoàng Thị N tương đương một kỷ phần được hưởng thừa kế. Chia di sản thừa kế thành 10 phần gồm bà N và 08 người con, 1 phần trích công sức cho bà N.
Do di sản thừa kế không thể chia thành hiện vật là đất được, các con ông Đ là chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H đồng ý chia di sản thừa kế bằng tiền và tặng lại kỷ phần thừa kế được hưởng cho mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N.
Đối với phần di sản thừa kế mà anh Nguyễn Văn T2 được hưởng, bà Hoàng Thị N có trách nhiệm trả tiền trị giá đối với phần di sản thừa kế mà anh T2 được chia.
Đối với các tài sản trên đất, các đồng thừa kế đồng ý để bà Hoàng Thị N được sử dụng, không buộc bà N phải trả tiền cho các đồng thừa kế.
Bà Hoàng Thị N có toàn quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại là ½ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H 00181 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; được UBND huyện H cấp ngày 22/9/2006 và các tài sản trên đất.
2. Đối với diện tích đất nông nghiệp: Đề nghị công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ. Diện tích thực tế còn lại của gia đình (theo hồ sơ đổi điền dồn thửa lần 3 năm 2017 lưu tại UBND xã H) thửa LUC 35, LUC 36, LUC 37 là 2.258 m².
Đề nghị cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất nông nghiệp này cho hộ bà Hoàng Thị N.
Tại phiên tòa
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623; Vào sổ cấp giấy chứng nhận số 348/QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ; Giữ nguyên các yêu cầu khác tại nội dung đơn khởi kiện và đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện,
Các đồng thừa kế giữ nguyên thoả thuận chia thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại như đã thống nhất tại Biên bản hoà giải ngày 20/8/2024. Đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận chia di sản thừa kế này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng không chấp hành, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng: Điều 26; Điều 34; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 58; Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612; Điều 618; Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651 và Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623; Vào sổ cấp giấy chứng nhận số 348/QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện của nguyên đơn.
+ Xác định tài sản của bà Hoàng Thị N là ½ tài sản trong khối tài sản chung vợ chồng là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4; địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N.
+ Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hoá; Số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
+ Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ theo pháp luật.
Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ là bà Hoàng Thị N và 08 người con là: Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T2.
Ghi nhận sự thoả thuận của các đồng thừa kế về việc chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ thành 10 phần bằng nhau gồm 1 phần trích công sức cho bà N và 09 phần cho các hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ.
+ Đối với diện tích đất nông nghiệp: Công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ là chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H, anh T2 có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án. Bà N và anh T2 được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế: Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự 2015 về thời hiệu thừa kế là 30 năm đối với bất động sản. Ông Nguyễn Văn Đ chết ngày 23/9/2015, nguyên đơn khởi kiện đến Tòa án ngày 27/10/2023, vì vậy yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án xác định tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng; Tuyên bố di chúc vô hiệu; Yêu cầu chia di sản thừa kế và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tư cách tố tụng: Anh Nguyễn Văn T2 bị khuyết tật nặng, dạng trí tuệ (Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu 383915982210 do Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 02/7/2024) là Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên bà Hoàng Thị N (mẹ đẻ anh T2) là người đại diện theo pháp luật của anh T2.
Về yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã rút 01 phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ 1 phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
Về sự vắng mặt của đương sự:
Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa; UBND xã H, huyện H tỉnh Thanh Hóa; Văn phòng C (Nay là Văn phòng C1) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với anh Nguyễn Văn T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không
có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về Xác định tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng:
Theo quy định tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình quy định về Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
“1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.
2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.”
Đối với Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162; số vào sổ cấp giấy chứng nhận H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N là tài sản chung của ông Đ và bà N. Diện tích theo Giấy chứng nhận QSD đất là 574,8 m² gồm 513m² đất ở và 61,8m² đất trồng cây lâu năm (diện tích đo thực tế là 579,2m²).
Ông Nguyễn Văn Đ đã chết, bà N có yêu cầu chia di sản thừa kế thì tài sản chung vợ chồng được chia đôi theo quy định tại khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình. Bà Hoàng Thị N được hưởng ½ tài sản chung của vợ chồng. Do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xác định tài sản của bà trong khối tài sản chung của vợ chồng. Bà N và ông Đ mỗi người được hưởng 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
[2.2] Về yêu cầu chia thừa kế:
Về quan hệ nhân thân: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N kết hôn năm 1973. Vợ chồng có 08 người con chung gồm: Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T2.
Ngoài những người con trên, ông Đ không còn người con nuôi, con đẻ nào khác. Bố ông Đ là cụ Nguyễn Văn D đã chết ngày 03/12/1977, mẹ ông Đ là cụ Lê Thị T4 đã chết ngày 07/6/1981 nên hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ là bà Hoàng Thị N và 08 người con trên.
Về di sản thừa kế:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ là:
- Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162 ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N.
- Một phần Quyền sử dụng đất nông nghiệp, thửa đất số: Thửa 468, 469, 607, 624 và 634 tờ bản đồ số 01; thửa 286 tờ bản đồ số 03, Bản đồ địa chính xã H. Được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ.
Ngoài ra ông Đ không còn tài sản nào khác.
Thời hiệu chia thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ đang còn nên được xem xét theo yêu cầu của bà Hoàng Thị N.
[2.3] Về yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu:
Nhận thấy: Ông Nguyễn Văn Đ lập di chúc vào ngày 23/9/2015 và chết vào ngày 23/9/2015, do đó áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để xem xét tính hợp pháp của di chúc.
Về hình thức di chúc: Ông Nguyễn Văn Đ lập di chúc tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa.
Tại Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Thủ tục lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
“Việc lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn phải tuân theo thủ tục sau đây:
1. Người lập di chúc tuyên bố nội dung của di chúc trước công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực phải ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi xác nhận bản di chúc đã được ghi chép chính xác và thể hiện đúng ý chí của mình. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn ký vào bản di chúc;
2. Trong trường hợp người lập di chúc không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận bản di chúc trước mặt người lập di chúc và người làm chứng”
Tại phiên toà các đương sự đều khai ông Đ bị bệnh ung thư vòm họng, thời gian điều trị bệnh lâu dài, trước khi ông Đ chết sức khoẻ yếu, không đi lại được, nói chuyện khó khăn. Ông Đ lập di chúc cùng ngày ông Đ chết, công chứng viên đến tận nhà cho ông Đ điểm chỉ. Do đó, di chúc ghi “ tại trụ sở Văn phòng C; địa chỉ :
Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa” là không đúng thực tế. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 44 Luật công chứng:
“1. Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”.
Do đó việc lập di chúc của ông Nguyễn Văn Đ tại Văn phòng công chứng là đúng quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về hình thức.
Về nội dung di chúc: Tại Di chúc ngày 23/9/2015 của ông Nguyễn Văn Đ có nội dung:
“Tài sản chung của vợ, chồng là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995, vào sổ cấp GCNQSD đất số 348..QSDĐ/...
1.1. Thông tin cụ thể về quyền sử dụng đất:
- Thửa đất số 634 + 286 + 624 + 469 + 468 + 607, tờ bản đồ số 01
- Thửa đất số 72, tờ bản đồ số 04
- Diện tích 4.905,2m²;
- Mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 498,0m²; Đất sản xuất nông nghiệp 4407,2m²
- Giấy tờ pháp lý kèm theo: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 312.623, vào sổ cấp GCNQSD đất số 348..QSDĐ do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ.
1.2 Thông tin cụ thể về tài sản gắn liền với đất
Nhà ở: Nhà cấp 4, mái lợp ngói, diện tích 60m², công trình phụ có bếp, nhà vệ sinh.
Giấy tờ pháp lý kèm theo có giấy xác nhận của UBND xã H.
Người được hưởng di sản theo di chúc là bà Hoàng Thị N (vợ) và ông Nguyễn Đức T3 (con đẻ).
Sau khi tôi chết thì phần di sản trên là tài sản chung của chúng tôi, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tôi có 50% giá trị tài sản chung. Tôi quyết định để lại tài sản như sau:
Sau khi tôi chết vợ tôi là bà Hoàng Thị N có toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt phần tài sản của tôi trong khối tài sản nói trên. Với nguyện ý vợ tôi phải chăm sóc, nuôi dưỡng, điều trị bệnh cho con trai tôi là Nguyễn Văn T2. Thờ cúng tổ tiên, sau này khi già yếu giao lại tài sản cho con trai là Nguyễn Văn T2 (Nếu ông T2 có con thì con ông T2 sẽ được hưởng phần tài sản này. Trong trường hợp ông T2 không có con thì phần tài sản này sẽ làm nhà thờ cho dòng họ Nguyễn V ....
không được mua bán chuyển nhượng).
Mọi hoạt động quản lý và chi tiêu tài sản của tôi sau khi tôi chết giao cho cháu tôi là ông Nguyễn Văn T là người giám hộ”.
Theo nội dung của di chúc thì ông Đ để lại tài sản của ông là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995, vào sổ cấp GCNQSD đất số 348..QSDĐ. Tuy nhiên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 312.623, vào sổ cấp GCNQSD đất số 348..QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ có diện tích 4408m² gồm các thửa đất số: 468, 469, 607, 624 và 634 tờ bản đồ số 01; thửa 286 tờ bản đồ số 03 là đất sản xuất nông nghiệp, có thời hạn sử dụng đến tháng 6 năm 2015.
Tại công văn trả lời của UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa có nội dung “Căn cứ theo Nghị định 64/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về giao đất sản xuất nông nghiệp ổn định, lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân; theo đó hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ gồm 9 khẩu nông nghiệp được giao ruộng (gồm ông Đ, bà N (vợ ông Đ) và 07 người con), với tổng diện tích được giao là 4.408,0 m². Vì vậy, Giấy CNQSD đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ là cấp cho hộ gia đình”.
Như vậy Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995 là cấp cho hộ gia đình, ông Đ đã định đoạt toàn bộ diện tích đất nông nghiệp này cho bà N và anh T2 là không đúng quy định của pháp luật.
Trong di chúc, ông Đ còn định đoạt cả thửa đất số 72, tờ bản đồ số 04 nhưng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 312.623, vào sổ cấp GCNQSD đất số 348..QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ thì không có thửa đất số 72 và không có đất ở mà toàn bộ diện tích đất này chỉ là đất sản xuất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đến tháng 6 năm 2015; Trong khối di sản thừa kế của ông Đ để lại cũng không có thửa đất số 72, tờ bản đồ số 04 như trong di chúc ông Đ đã định đoạt.
Theo quy định tại Điều 56 của Luật công chứng quy định về công chứng di chúc, dẫn chiếu đến khoản 1 Điều 40 về Hồ sơ yêu cầu công chứng gồm các giấy tờ sau đây:
a) Phiếu yêu cầu công chứng, trong đó có thông tin về họ tên, địa chỉ người yêu cầu công chứng, nội dung cần công chứng, danh mục giấy tờ gửi kèm theo; tên tổ chức hành nghề công chứng, họ tên người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, thời điểm tiếp nhận hồ sơ;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có”.
Điều 47 Luật công chứng quy định “Người yêu cầu công chứng phải xuất trình đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó”.
Việc Văn phòng C chứng thực Di chúc ngày 23/9/2015 của ông Nguyễn Văn Đ nhưng không kiểm tra tính hợp pháp và các thông tin về giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng của ông Đ là không đúng quy định của pháp luật.
Tại Điều 64 Luật công chứng quy định về Chế độ lưu trữ hồ sơ công chứng
“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bảo quản chặt chẽ, thực hiện biện pháp an toàn đối với hồ sơ công chứng.
2. Bản chính văn bản công chứng và các giấy tờ khác trong hồ sơ công chứng phải được lưu trữ ít nhất là 20 năm tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng; trường hợp lưu trữ ngoài trụ sở thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của Sở Tư pháp”.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã ra Quyết định về việc yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến hồ sơ công chứng số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP-CC-SCC/HĐDG do Văn phòng C (nay là văn phòng C1) chứng nhận ngày 23/9/2015. Văn phòng C1 trả lời như sau: Đối với hồ sơ công chứng, do quá trình văn phòng chuyển trụ sở làm việc nên hồ sơ lưu trữ đã bị thất lạc, vì vậy Văn phòng C1 thông báo lại cho Toà án có cơ sở giải quyết.
Hồ sơ yêu cầu công chứng của ông Đ là ngày 23/9/2015 đến nay mới 09 năm, việc Văn phòng C không còn lưu trữ hồ sơ công chứng này là vi phạm quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại phần cuối di chúc còn có nội dung: “Mọi hoạt động quản lý và chi tiêu tài sản của tôi sau khi tôi chết giao cho cháu tôi là ông Nguyễn Văn T là người giám hộ”.
Ông Nguyễn Văn Đ chết năm 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để xem xét về người giám hộ. Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Giám hộ như sau:
“1. Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ).
2. Người được giám hộ bao gồm:
a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bị Toà án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu;
b) Người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Người chưa đủ mười lăm tuổi được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và người được quy định tại điểm b khoản 2 Điều này phải có người giám hộ.
4. Một người có thể giám hộ cho nhiều người, nhưng một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp người giám hộ là cha, mẹ hoặc ông, bà theo quy định tại khoản 2 Điều 61 hoặc khoản 3 Điều 62 của Bộ luật này”.
Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Quản lý tài sản của người được giám hộ như sau:
“1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này”.
Đối chiếu với quy định về giám hộ và Quản lý tài sản của người được giám hộ thì việc ông Nguyễn Văn Đ giao cho ông Nguyễn Văn T giám hộ mọi hoạt động quản lý và chi tiêu tài sản của ông Đ sau khi chết là không phù hợp với quy định của pháp luật, do đó phần di chúc này vô hiệu.
Bản thân bà Hoàng Thị N là người được ông Nguyễn Văn Đ giao quản lý, định đoạt tài sản thừa kế của ông Đ cũng đề nghị Tòa án tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 là vô hiệu do vi phạm pháp luật. Do đó chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
Đối với Quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04, tại thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số AG 121162 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N thì trong di chúc của ông Nguyễn Văn Đ không đề cập đến. Do đó tài sản này ông Nguyễn Văn Đ chưa định đoạt cho ai được hưởng di sản thừa kế.
Từ phân tích trên, di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hóa không hợp pháp, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị N, tuyên bố di chúc vô hiệu.
Do di chúc ông Nguyễn Văn Đ lập vô hiệu nên di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ được chia theo pháp luật.
[2.3] Về trích công sức:
Di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ là Quyền sử dụng đất tại thửa số 77, tờ bản đồ số 04, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm trị giá 1.443.390.500đ. Các tài sản trên đất các đương sự không yêu cầu định giá vì tài sản xây dựng từ năm 1980, đã cũ, hết khấu hao sử dụng.
Bà Hoàng Thị N là người trực tiếp sinh sống trên thửa đất, chăm sóc anh T2, trông coi di sản, thờ cúng tổ tiên từ khi ông Đ chết đến nay, hàng năm đều thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước và có công duy trì, tôn tạo, bảo quản đất. Các đồng thừa kế thống nhất trích một phần công sức bảo quản di sản cho bà Hoàng Thị N tương đương với một kỷ phần được hưởng thừa kế. Cho nên chấp nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.
[2.4] Chia kỷ phần cho các hàng thừa kế:
Quá trình giải quyết vụ án các đồng thừa kế của ông Đ đều thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm bà N là vợ 08 người con là: Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T2 .
Tại phiên toà, các đồng thừa kế đề nghị ghi nhận sự thoả thuận và tự nguyện của các đương sự như tại Biên bản hoà giải ngày 20/8/2024 với nội dung như sau:
1. Chia theo pháp luật di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4; diện tích diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm; Địa chỉ: Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H 00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; Tài sản trên đất là nhà cấp 4 diện tích xây dựng 48,6m²; nhà bếp, chuồng chăn nuôi, công trình phụ và cây cối.
Thống nhất trích công sức cho bà Hoàng Thị N tương đương một kỷ phần được hưởng thừa kế. Chia di sản thừa kế thành 10 phần bằng nhau gồm: 1 phần trích công sức cho bà N và 09 phần cho các hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ.
Chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H đồng ý chia di sản thừa kế bằng tiền.
Trị giá di sản là 1.443.390.500đ, mỗi kỷ phần được hưởng là 144.339.000đ.
Chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H tự nguyện tặng lại kỷ phần được hưởng cho mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N, không yêu cầu bà N phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Đối với phần di sản thừa kế mà anh Nguyễn Văn T2 được hưởng, bà Hoàng Thị N có trách nhiệm trả cho anh T2 số tiền 144.339.000đ.
Đối với các tài sản trên đất, các đồng thừa kế đồng ý để bà Hoàng Thị N được sử dụng, không buộc bà N phải trả tiền cho các đồng thừa kế.
Bà Hoàng Thị N có toàn quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại là Quyền sử dụng đất là 258,7m² đất ở; 30,9m² đất trồng cây lâu năm và các tài sản trên đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất H 00181 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N; được UBND huyện H cấp ngày 22/9/2006.
2. Đối với di sản thừa kế là một phần diện tích đất nông nghiệp: Đề nghị công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ. Diện tích thực tế còn lại của gia đình (theo hồ sơ đổi điền dồn thửa lần 3 năm 2017 lưu tại UBND xã H) là thửa LUC 35, LUC 36, LUC 37 diện tích 2.258 m².
Do đó HĐXX công nhận sự thoả thuận và tự nguyện này của các đồng thừa kế.
[3] Về chi phí định giá tài sản tranh chấp, nguyên đơn có đơn yêu cầu định giá tài sản, tự nguyện nộp chi phí. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí:
Các đương sự phải chịu án phí theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản được hưởng theo điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326 của UBTVQH khóa 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H được nhận kỷ phần thừa kế nhưng tự nguyện tặng lại cho bà N nên bà N phải chịu án phí đối với kỷ phần được nhận từ người khác. Do bà N là người cao tuổi, anh T2 là người khuyết tật; Bà N và anh T2 thuộc hộ nghèo, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH khóa 14.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 26; Điều 34; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 58; Điều 658 Bộ luật dân sự năm 2005;
Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612; Điều 618; Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651 và Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện về việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623; Vào sổ cấp giấy chứng nhận số 348/QSDĐ do UBND huyện H, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 05/8/1995 mang tên ông Nguyễn Văn Đ.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện của nguyên đơn:
- Xác định tài sản của bà Hoàng Thị N trong khối tài sản chung vợ chồng là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm; địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N. Trị giá tài sản là 1.443.390.500đ.
Cụ thể: Phía Bắc giáp đường nhựa, đất nhà ông T5 và đất nhà ông Tượng
Phía Đông giáp đường nhựa. HT1
Phía Nam giáp đất bà N được chia thừa kế
Phía Tây giáp đất ông Đỗ Xuân P2.
(Có sơ đồ thửa 1 kèm theo)
- Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn Đ lập ngày 23/9/2015 tại Văn phòng C, tỉnh Thanh Hoá; Số công chứng 952, quyển số 03/2015/TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.
- Xác định di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại là:
+ Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm; địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N. Trị giá tài sản là 1.443.390.500₫.
Tài sản trên đất có: Một nhà cấp 4 xây dựng năm 1980 diện tích 48,6m², bếp, chuồng chăn nuôi, công trình phụ và một số cây cối trên đất.
+ Một phần Quyền sử dụng đất nông nghiệp, thửa đất số 468, 469, 607, 624 và 634 tờ bản đồ số 01; thửa 286 tờ bản đồ số 03, Bản đồ địa chính xã H. Được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 đứng tên ông Nguyễn Văn Đ.
Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Đ là bà Hoàng Thị N và 08 người con là: Chị Nguyễn Thị H1, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị T1, chị Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị P, chị Nguyễn Thị S, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T2.
Công nhận sự thoả thuận của các đồng thừa kế như sau:
1. Chia theo pháp luật di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm; địa chỉ Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N.
Cụ thể: Thống nhất trích công sức cho bà Hoàng Thị N tương đương một kỷ phần được hưởng thừa kế. Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ thành 10 phần bằng nhau gồm: 01 phần trích công sức cho bà N và 09 phần cho các hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ.
Các đồng thừa kế thống nhất giao di sản thừa kế cho bà N được quyền sử dụng, bà N có trách nhiệm trả tiền chênh lệch cho các đồng thừa kế giá trị bằng tiền. Mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 144.339.000đ (Một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm ba mươi chín ngàn đồng).
Chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H tự nguyện tặng phần thừa kế được hưởng cho mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N, không yêu cầu bà N phải thanh toán.
Đối với phần di sản thừa kế mà anh Nguyễn Văn T2 được hưởng, bà Hoàng Thị N có trách nhiệm trả cho anh T2 số tiền 144.339.000đ (Một trăm bốn mươi bốn triệu, ba trăm ba mươi chín ngàn đồng).
Đối với các tài sản trên thửa đất, các đồng thừa kế đồng ý để bà Hoàng Thị N và anh T2 được sử dụng, không buộc bà N phải trả tiền cho các đồng thừa kế.
Bà Hoàng Thị N có toàn quyền sở hữu và sử dụng phần di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ để lại là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 4, diện tích 258,7m² đất ở và 30,9m² đất trồng cây lâu năm; địa chỉ Thôn Đ (nay là thôn Đ), xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 121162, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00181 được UBND huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 22/9/2006 mang tên ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị N và các tài sản trên đất.
Cụ thể: Phía Bắc giáp thửa số 1 của bà Hoàng Thị Ninh
Phía Đông giáp đường nhựa. HT1
Phía Nam giáp đường bê tông (ngõ D)
Phía Đông giáp đất ông Đỗ Xuân P2,
(Có sơ đồ thửa 2 kèm theo)
Bà Hoàng Thị N có nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đối với phần tài sản được chia.
2. Đối với di sản thừa kế là diện tích đất nông nghiệp: Công nhận bà Hoàng Thị N và các con của ông Đ là chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H, anh T2 có quyền sử dụng hợp pháp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được giao theo quy định cho hộ ông Đ (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 312623 do UBND huyện H cấp ngày 05/8/1995 cho ông Nguyễn Văn Đ). Diện tích
thực tế còn lại của hộ gia đình theo hồ sơ đổi điền dồn thửa lần 3 năm 2017 lưu tại UBND xã H, huyện H là thửa LUC 35, LUC 36, LUC 37, diện tích 2.258 m².
Bà Hoàng Thị N và chị H1, chị L, chị P, chị N1, chị T1, chị S, chị H, anh T2 có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất nông nghiệp này cho hộ bà Hoàng Thị N theo quy định.
- Về án phí: Bà Hoàng Thị N và anh Nguyễn Văn T2 được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết công khai bản án.
(Kèm theo Bản án là Sơ đồ thửa đất).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Anh |
Bản án số 142/2024/DS- ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về chia tài sản chung; tuyên bố di chúc vô hiệu; yêu cầu chia di sản thừa kế; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận qsd đất
- Số bản án: 142/2024/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung; Tuyên bố di chúc vô hiệu; Yêu cầu chia di sản thừa kế; Yêu cầu Huỷ Giấy chứng nhận QSD đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu chia tài sản chung, chia thừa kế và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
