|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/HS-PT Ngày 24-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung
Bà Lê Thị Hải Yến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 118/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Cao Thương L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 143/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Cao Thương L, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1983 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn L1 (đã chết) và bà Phùng Thị T; có vợ là Vũ Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24 tháng 4 năm 2024. Có mặt.
- Bị hại: Bà Đào Thị T1, sinh năm 1972; nơi đăng ký thường trú: Số B V, A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số C T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2020, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (viết tắt là Công ty T2); địa chỉ tại số B V, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng do bà Đào Thị T1 làm giám đốc, ký hợp đồng với Công ty Cổ phần Y (viết tắt là Công ty Y); địa chỉ: Tầng C Tòa nhà H, số B N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để phân phối các sản phẩm về yến. Công ty Y đã cử nhân viên là Cao Thương L đến Công ty T2 để bán hàng với nhiệm vụ là đi tìm đơn hàng về cho Công ty T2. Công ty T2 sẽ cử nhân viên của mình đi giao hàng và thu tiền hàng theo đơn hàng L mang về.
Do Công ty T2 không có nhân viên đi giao hàng nên bà T1 đã nhờ L đi giao hàng và thu tiền hàng hộ mà không phải trả chi phí cho L. Hàng ngày, L nhận hàng tại kho của Công ty T2 tại số I T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng mang đi bán và thu tiền mà khách trả. Hôm sau, L nộp tiền bán hàng về Công ty và nhận hàng mới để đi bán tiếp. L giao hàng hộ bà T1 được khoảng 06 tháng đến khoảng tháng 5 năm 2020 thì dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh, hạn chế đi lại nên L đề nghị bà T1 được giao số lượng hàng nhiều hơn để L bán hàng trong nhiều ngày, bán xong mới đến Công ty nộp tiền và nhận hàng mới. Bà T1 đồng ý cho L nhận nhiều hàng nhưng yêu cầu L sau khoảng 05 đến 07 ngày phải đến Công ty nộp tiền bán hàng.
Đến khoảng tháng 6 năm 2021, L báo với bà T1 có nhiều khách hàng mua hàng nhưng nợ tiền (việc cho khách nợ L được tự ý quyết định) đồng thời L nộp về cho bà T1 các hóa đơn bán hàng khách hàng nợ tiền. Các hóa đơn này do Công ty T2 cung cấp sẵn cho L, khi phát sinh khách hàng nợ thì Lâm điền tên khách, địa chỉ, hàng hóa và số tiền khách nợ. Sau đó, bà T1 đã giục L đi thu tiền khách nợ nhiều lần nhưng L không có tiền trả về cho Công ty nên đến ngày 06 tháng 11 năm 2021, L đã thừa nhận với bà T1 về việc lập khống các hóa đơn khách hàng nợ để nói dối bà T1 khách nợ tiền. Thực tế, số hàng nhận của Công ty M đi bán, L đã bán hết, thu được tiền hàng nhưng đã chi tiêu hết và chưa nộp tiền về cho bà T1. L và bà T1 đã thống kê lại số hóa đơn mà L nói dối khách nợ gồm 14 đơn hàng lập khống với tổng số tiền là 50.221.000 đồng. Ngoài ra, trước đó L đã ký sổ xin nhận nợ tiền hàng với bà T1 là 17.252.000 đồng và 3.380.000 đồng - là tiền bán mặt hàng nước giặt L nhận hàng của Công ty để bán nhưng chưa nộp lại (hai khoản này L đã được bà T1 cho nợ). Tổng cộng L nhận nợ với bà T1 là 70.853.000 đồng và hẹn trả dần tiền cho bà T1; bà T1 đồng ý.
Từ ngày 11 tháng 11 năm 2021 đến ngày 29 tháng 4 năm 2022, L đã trả cho bà T1 bốn lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng, số tiền còn lại là 30.853.000 đồng, L không tiếp tục trả. Bà T1 đã nhiều lần cử người liên lạc và đến nhà L nhưng không gặp được L. Ngày 22 tháng 12 năm 2022 bà T1 đã khởi kiện L đến Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên để đòi lại tiền. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, L không có mặt. Ngày 04 tháng 4 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên đã chuyển đơn của bà T1 đến Công an quận L để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, L đã trả hết cho bà T1 số tiền 30.853.000 đồng vào ngày 25 tháng 8 năm 2023. Bà Đào Thị T1 đã nhận đủ tiền bồi thường nên không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhẹ trách nhiệm hình sự cho L.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 143/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng quyết định: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Thương L 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26 tháng 7 năm 2024, bị cáo Cao Thương L có đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá cao, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về chăm sóc mẹ hiện đang bị bệnh.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Cao Thương L về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đánh giá nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 24 tháng tù là có căn cứ. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có nơi làm việc ổn định, thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú trong thời gian dài gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án và cũng không thể hiện việc không có điều kiện để chăm sóc mẹ già. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 16 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên tòa bị cáo Cao Thương L có mặt. Vì vậy, ngày 26 tháng 7 năm 2024, bị cáo gửi đơn kháng cáo qua dịch vụ bưu chính là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Cao Thương L về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là đúng với hành vi của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về tội danh, chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo 24 tháng tù - mức khởi điểm của khung hình phạt là thỏa đáng, không nặng. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng; số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị lớn. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác minh, xử lý vụ việc; trốn tránh nghĩa vụ khắc phục hậu quả đối với bị hại; hiện tại bị cáo không có nghề nghiệp và nơi làm việc ổn định. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc giảm mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Thương L và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Thương L và giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 175; Điều 38; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Cao Thương L phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Cao Thương L 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Cao Thương L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |
Bản án số 142/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 142/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thương L phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
