|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày: 24-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Khanh
Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2024/QĐST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 103/2024/QĐST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh T, giới tính: nữ; tên gọi khác: không, sinh năm 1973 tại tỉnh Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 525/15/3 L, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: nội trợ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; con ông Nguyễn T1 và bà Nguyễn Thị G; chồng: Trần Minh S; có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền sự: không; tiền án: không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1979;
- Ông Lý Quốc H, sinh năm 1972;
- Chị Phạm Kim N1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: 2 ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: 4 khu phố F, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: 6 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh;
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 15/10/2023, Tổ Công tác 363 Công an huyện H tuần tra đến trước nhà số E ấp M, xã T, huyện H phát hiện Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Thị Thanh T không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng xe. Qua làm việc, phát hiện trong điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của T có tin nhắn zalo với nội dung cho người khác vay tiền nên Tổ Công tác giao T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành điều tra làm rõ như sau:
Khoảng tháng 6/2023, T bắt đầu cho người khác vay tiền để lấy tiền lãi, số tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hình thức vay trả góp hàng ngày. Nếu vay 100.000.000 đồng thì người vay sẽ đóng tiền góp trong 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Nếu người vay trả đủ 23 ngày thì T sẽ nhận được số tiền 115.000.000 đồng.
Khi cho vay tiền, T không làm giấy tờ, hợp đồng. T đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho người vay. Sau đó, hàng ngày, người vay tiền sẽ chuyển khoản cho T để trả tiền vay. T sử dụng số tài khoản 103876324495 tại Ngân hàng V để hoạt động cho vay. T đã cho những người sau vay tiền:
- Ông Trần Văn N: Vào khoảng tháng 6/2023 (không nhớ rõ ngày), T cho ông N vay tiền 06 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả góp trong 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày, ông N đã trả hết nợ. Tiền lãi hợp pháp là 1.260.274 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 13.739.726 đồng. Lãi suất 237,98%/năm. Thu lợi bất chính là 13.739.726 đồng.
Lần 2 và 3: Thúy cho ông N vay đáo hạn số tiền 100.000.000 đồng trên, hình thức vay và thu lợi bất chính như lần 1.
Lần 4: Vay trả góp số tiền 150.000.000 đồng, trả góp trong vòng 23 ngày với số tiền 7.500.000 đồng/ngày. Ông N đã trả góp được 09 ngày với số tiền 67.500.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 739.726 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 8.064.622 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính là 8.064.622 đồng.
Lần 5: Vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả góp trong vòng 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Ông N đã trả góp được 03 ngày với số tiền 15.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 164.384 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 1.792.138 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính là 1.792.138 đồng.
Lần 6: Vay dưới hình thức trả lãi đứng số tiền 100.000.000 đồng, trả lãi hàng tháng. T và ông N thỏa thuận trả lãi 20.000.000 đồng/tháng, khi nào có tiền gốc trả là hết nợ. Do mới vay số tiền này nên ông N chưa trả lãi và gốc cho T.
Tổng số tiền lãi hợp pháp là 4.684.932 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 51.075.938 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính 51.075.938 đồng.
- Ông Lý Quốc H: Ngày 24/9/2023, T cho ông H vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả trong 24 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Ông H trả được 20 ngày với số tiền 100.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 1.095.890 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 15.570.776 đồng. Lãi suất 302,95%/năm. Thu lợi bất chính là 15.570.776 đồng.
- Chị Phạm Kim N1: Ngày 04/10/2023, T cho chị N1 vay trả góp số tiền 50.000.000 đồng, trả trong 24 ngày với số tiền 2.500.000 đồng/ngày. Chị N1 đã trả tiền được 11 ngày với số tiền 27.500.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 301.370 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 4.281.963 đồng. Lãi suất 302,95%/năm. Thu lợi bất chính là 4.281.963 đồng.
2
Vật chứng thu giữ:
01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng: T dùng vào việc phạm tội.
Số tiền 9.964.236 đồng thu giữ trong tài khoản số [...] của T tại Ngân hàng V: Liên quan đến việc phạm tội.
Tại Cáo trạng số 96/CT-VKS-HM ngày 12/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận tội danh như cáo trạng truy tố, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 15/10/2023, Tổ Công tác 363 Công an huyện H tuần tra đến trước nhà số E ấp M, xã T, huyện H phát hiện Nguyễn Văn S1 và Nguyễn Thị Thanh T không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng xe. Qua làm việc, phát hiện trong điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus của T có tin nhắn zalo với nội dung cho người khác vay tiền nên Tổ Công tác giao T cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành điều tra làm rõ như sau:
Khoảng tháng 6/2023, T bắt đầu cho người khác vay tiền để lấy tiền lãi, số tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, hình thức vay trả góp hàng ngày. Nếu vay 100.000.000 đồng thì người vay sẽ đóng tiền góp trong 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Nếu người vay trả đủ 23 ngày thì T sẽ nhận được số tiền 115.000.000 đồng.
Khi cho vay tiền, T không làm giấy tờ, hợp đồng. T đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho người vay. Sau đó, hàng ngày, người vay tiền sẽ chuyển
3
khoản cho T để trả tiền vay. T sử dụng số tài khoản 103876324495 tại Ngân hàng V để hoạt động cho vay. T đã cho những người sau vay tiền:
- Ông Trần Văn N: Vào khoảng tháng 6/2023 (không nhớ rõ ngày), T cho ông N vay tiền 06 lần, cụ thể như sau:
Lần 1: Vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả góp trong 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày, ông N đã trả hết nợ. Tiền lãi hợp pháp là 1.260.274 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 13.739.726 đồng. Lãi suất 237,98%/năm. Thu lợi bất chính là 13.739.726 đồng.
Lần 2 và 3: Thúy cho ông N vay đáo hạn số tiền 100.000.000 đồng trên, hình thức vay và thu lợi bất chính như lần 1.
Lần 4: Vay trả góp số tiền 150.000.000 đồng, trả góp trong vòng 23 ngày với số tiền 7.500.000 đồng/ngày. Ông N đã trả góp được 09 ngày với số tiền 67.500.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 739.726 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 8.064.622 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính là 8.064.622 đồng.
Lần 5: Vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả góp trong vòng 23 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Ông N đã trả góp được 03 ngày với số tiền 15.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 164.384 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 1.792.138 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính là 1.792.138 đồng.
Lần 6: Vay dưới hình thức trả lãi đứng số tiền 100.000.000 đồng, trả lãi hàng tháng. T và ông N thỏa thuận trả lãi 20.000.000 đồng/tháng, khi nào có tiền gốc trả là hết nợ. Do mới vay số tiền này nên ông N chưa trả lãi và gốc cho T.
Tổng số tiền lãi hợp pháp là 4.684.932 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 51.075.938 đồng. Lãi suất 237,98%/ năm. Thu lợi bất chính 51.075.938 đồng.
- Ông Lý Quốc H: Ngày 24/9/2023, T cho ông H vay trả góp số tiền 100.000.000 đồng, trả trong 24 ngày với số tiền 5.000.000 đồng/ngày. Ông H trả được 20 ngày với số tiền 100.000.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 1.095.890 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 15.570.776 đồng. Lãi suất 302,95%/năm. Thu lợi bất chính là 15.570.776 đồng.
- Chị Phạm Kim N1: Ngày 04/10/2023, T cho chị N1 vay trả góp số tiền 50.000.000 đồng, trả trong 24 ngày với số tiền 2.500.000 đồng/ngày. Chị N1 đã trả tiền được 11 ngày với số tiền 27.500.000 đồng. Tiền lãi hợp pháp là 301.370 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 4.281.963 đồng. Lãi suất 302,95%/năm. Thu lợi bất chính là 4.281.963 đồng.
Tổng số tiền bị cáo hưởng lợi bất chính là: 70.928.677 đồng.
[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo đã có hành vi cho nhiều người dân vay tiền với lãi suất từ 237,9%/năm đến 302,95%/năm và thu lợi bất chính số tiền 70.928.677 đồng. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.
4
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Ngoài ra, Hội đồng xét xử xử phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 50.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
[8.1] 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng: Liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8.2] Đối với số tiền nợ gốc mà những người vay tiền đã trả cho bị cáo, cụ thể:
Ông N đã trả 100.000.000 đồng của lần vay 1 (lần 2 và 3 vay đáo hạn của lần 1); 58.695.652 đồng của lần vay 4; 13.043.478 đồng của lần vay 5; tổng cộng là: 171.739.130 đồng.
Ông H đã trả 83.333.334 đồng.
Chị N1 đã trả 22.916.667 đồng.
Tổng số tiền gốc người vay đã trả tiền cho T là 277.989.131 đồng. Đây là tiền bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
[8.3] Đối với số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà người vay đã trả cho bị cáo, cụ thể:
Ông N trả tiền lãi của lần vay 1, 2, 3 là: 1.260.274 đồng x 3 = 3.780.822 đồng; lần 4 là 739.726 đồng; lần 5 là 164.384 đồng; tổng cộng là: 4.684.932 đồng.
Ông H đã trả lãi: 1.095.890 đồng.
Chị N1 đã trả lãi: 301.370 đồng.
Tổng số tiền lãi hợp pháp bị cáo thu được là 6.082.192 đồng. Số tiền này tuy không tính để xác định trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhưng là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung quỹ Nhà nước, buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 6.082.192 đồng.
[8.4] Đối với số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính (vượt quá 20%/năm) của những người vay, cụ thể gồm:
Ông N trả tiền lãi lần 1, 2, 3 là 13.739.726 đồng x 3 = 41.219.178 đồng; lần 4 là 8.064.622 đồng; lần 5 là 1.792.138 đồng; tổng cộng là 51.075.938 đồng.
Ông H đã trả tiền lãi là 15.570.776 đồng.
Chị N1 đã trả tiền lãi là 4.281.963 đồng.
5
Đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính của những người vay nên buộc bị cáo phải trả lại số tiền trên cho những người vay trên.
[8.5] Đối với số tiền nợ gốc mà người vay chưa trả hết cho bị cáo, cụ thể:
[8.5.1] Ông N chưa trả:
Lần 4 là 150.000.000 đồng – 58.695.652 đồng = 91.304.348 đồng;
Lần 5 là 100.000.000 đồng – 13.043.478 đồng = 86.956.522 đồng;
Lần 6 là 100.000.000 đồng.
Tổng cộng là: 278.260.870 đồng.
[8.5.2] Ông H chưa trả là 100.000.000 đồng – 83.333.334 đồng = 16.666.666 đồng.
[8.5.3] Chị N1 chưa trả là 50.000.000 đồng – 22.916.667 đồng = 27.083.333 đồng.
Đây là số tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần buộc những người này nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
[8.6] Tổng số tiền gốc và tiền lãi hợp pháp người vay trả cho bị cáo T là 277.989.131 đồng + 6.082.192 đồng = 284.071.323 đồng.
Khi bị bắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của bị cáo số tiền 9.964.236 đồng trong tài khoản số [...] của bị cáo tại Ngân hàng V liên quan đến việc phạm tội.
Do đó, cấn trừ số tiền 9.964.236 đồng vào số tiền 284.071.323 đồng, bị cáo còn phải nộp lại số tiền 274.107.087 đồng sung quỹ Nhà nước.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Áp dụng Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, kể từ ngày cơ quan tổ chức giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
- Phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T số tiền 50.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
- Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong quá trình chấp hành án cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Thanh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thị Thanh T.
6
Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ 10% thu nhập để sung quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
(Đã giải thích các quy định về cải tạo không giam giữ).
- Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu hồng (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T nộp lại số tiền 274.107.087 đồng sung quỹ Nhà nước.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.964.236 đồng (theo Lệnh thanh toán đến ngày 01/12/2023 của Kho bạc Nhà nước huyện H).
- Buộc những người có tên sau nộp lại tiền để sung quỹ Nhà nước, cụ thể:
Ông Trần Văn N nộp lại 278.260.870 đồng.
Ông Lý Quốc H nộp lại 16.666.666 đồng.
Chị Phạm Kim N1 nộp lại 27.083.333 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T trả lại tiền cho những người có tên sau:
Trả lại cho ông Trần Văn N số tiền 51.075.938 đồng.
Trả lại cho ông Lý Quốc H số tiền 15.570.776 đồng.
Trả lại cho chị Phạm Kim N1 số tiền 4.281.963 đồng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng.
- Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mai |
8
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LÃI NẶNG
