|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2025/HS-PT Ngày 19 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán:
Ông Trần Nam Phương;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 423/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Phan Công Đ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Bị cáo có kháng cáo: Phan Công Đ, sinh năm 1989 tại Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 3 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Số A ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Hỗ trợ Công an huyện T; chức vụ: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (chết) và bà Phan Kim P, sinh năm 1962 (còn sống); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; nhân thân: ngày 22/02/2017, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2023 và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Phan Công Đ là Đội phó Đội 1102 (hỗ trợ Công an huyện T phòng chống tội phạm), có quen biết với Dương Văn B, sinh năm 1988 ngụ ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai và Lê Việt K, sinh năm: 1992 ngụ số C, khu phố P, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 27/5/2020, Ba cùng đồng phạm bị Phòng C Công an tỉnh Đ bắt quả tang về hành vi đánh bạc. Sau đó, vụ việc được giao cho Công an huyện T thụ lý giải quyết. Do được giao nhiệm vụ lái xe chở B và những người liên quan từ Công an xã S, huyện T về trụ sở Công an huyện Trảng Bom nên Đ biết sự việc Ba bị bắt do đánh bạc và bị Công an huyện T tạm giữ. Lúc này, Đ gọi điện nói cho K việc Ba bị bắt và hỏi xin số điện thoại của gia đình Ba nên K đã cho Đại số điện thoại của ông Dương Văn O, sinh năm 1956 ngụ ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (cha ruột Ba). Đ gọi cho ông O nhưng ông O không bắt máy. Sáng ngày 28/5/2024, ông O thấy cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại lạ nên gọi lại thì Đ bắt máy và giới thiệu Đ là Công an huyện T, thông báo việc Ba bị bắt do đánh bạc và hỏi gia đình có muốn lo cho B tại ngoại không. Ông O nói không biết việc này vì ông đi làm suốt ngày không có ở nhà, có gì liên lạc với bà Nguyễn Thị B1 (mẹ ruột của B), sinh năm 1958 ngụ Ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, ông O gọi điện thoại cho bà B1 nói việc Ba bị Công an huyện T bắt về hành vi đánh bạc, đồng thời có người tên Đại tự xưng là Công an huyện T nói có thể giúp cho Ba được tại ngoại nên bà B1 gọi điện thoại cho Đ nhiều lần nhưng Đ không nghe máy. Đến trưa cùng ngày, ông O về nhà tiếp tục gọi lại cho Đ thì Đ nghe máy, ông O đưa điện thoại cho bà B1 nói chuyện với Đ thì Đ bảo đừng gọi cho Đ trong giờ làm việc nên bà B1 tin tưởng Đ là Công an huyện T.
Ngày hôm sau, Đ nhờ K dẫn Đ đến nhà bà B1 tại Ấp A, xã S, huyện C. Tại đây, Đ nói bà B1 có muốn lo cho B được tại ngoại thì phải đưa cho Đ 250.000.000 đồng thì bà B1 đồng ý. Tuy nhiên, để chắc chắn rằng Đ có thể giúp cho Ba được tại ngoại thì bà B1 nhờ Đ giúp bà đi thăm gặp Ba, sau khi thăm gặp được Ba tại Nhà tạm giữ Công an huyện T thì bà B1 đã tin tưởng Đ nên sau khi chuẩn bị được tiền, bà B1 thông báo cho Đ biết. Khoảng 11 giờ một ngày giữa tháng 6/2020, Đ đi cùng K đến nhà bà B1. Tại đây, bà B1 đã đưa cho Đại số tiền 250.000.000 đồng để Đ lo việc chạy tại ngoại cho B dưới sự chứng kiến của K. Đ hứa hẹn trong vòng 10 ngày Ba sẽ được cho về. Tuy nhiên, Ba không được cho về như lời hứa hẹn của Đ nên bà B1 nhiều lần gọi điện hỏi thì Đ tiếp tục hứa hẹn với nhiều lý do khác nhau. Khoảng 02 tháng sau, Đ nói bà B1 đưa thêm cho Đ 100.000.000 đồng nữa thì Ba sẽ được thả về. Khi trao đổi với bà B1, Đ đưa ra những lời đe dọa như: “Thằng mà bắt thằng Ba nó nói với con, anh đừng có nhúng tay vô, em cho thằng Ba đi tới luôn, xử đầu vụ mút khung luôn, khỏi lo luôn, nó ghét thằng Ba, nó ghét lắm.”; “trong máy thằng Ba số đề không ở trong nữa, lấp lấp số đề cho nó nữa”; “Thằng H1 (K) biết sao không, anh sợ là nó ký quyết định giam bốn tháng nữa, mình không kịp cái này là nó giam bốn tháng rồi, bốn tháng xong rồi ra nó xử, bốn tháng nó chưa moi thằng Ba xong là bắt đầu tới sáu tháng"... Do tin tưởng lời của Đ nói nên bà B1 đồng ý đưa thêm cho Đ 100.000.000 đồng. Khoảng một ngày đầu tháng 8 năm 2020, Đ tiếp tục nhờ K dẫn đến nhà bà B1. Tại đây, bà B1 đưa thêm cho Đ 100.000.000 đồng. Tổng cộng bà B1 đã đưa cho Đ 02 lần tiền với tổng số tiền là 350.000.000 đồng. Tất cả các lần bà B1 đưa tiền cho Đ, đều có sự chứng kiến của K.
Ngày 11/8/2020 Ba được tại ngoại về nhà. Sau khi Ba được tại ngoại, Đ tiếp tục yêu cầu B đưa thêm cho Đại số tiền 50.000.000 đồng. Ba không đồng ý và cho rằng Đ không giúp đỡ gì Ba mà chỉ lừa đảo lấy của gia đình Ba. Sau nhiều lần gọi điện, nhắn tin đòi lại tiền nhưng Đ không chịu trả nên Ba đã bàn bạc với bà B1, ông O chủ động làm đơn tố cáo hành vi của Đ đến Cơ quan Công an, kèm theo 02 file ghi âm có nội dung thể hiện hành vi phạm tội của Đ do K cung cấp.
Tại bản kết luận giám định số 2867/KL-KTHS ngày 17/8/2022, Phân viện khọc hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tiếng nói của nam thanh niên được gọi là “Anh Đ” trong 02 file âm thanh mẫu cần giám định và tiếng nói của Phan Công Đ trong mẫu so sánh là của cùng một người nói ra.
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 3045/KL-KTHS ngày 30/6/2023, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nội dung hội thoại trong 02 file âm thanh mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản (Bản “Bản dịch nội dung” gồm 14 trang giấy A4).
* Vật chứng thu giữ:
- - 02 File ghi âm do Dương Văn B cung cấp được lưu trữ trong thiết bị ngoại vi (01 USB), trong đó: File thứ 1 (dài 18 phút 31 giây): Nội dung Đ nói chuyện với K và bà B1 liên quan đến việc chạy án cho Ba. File thứ 2 (dài 16 phút 19 giây): Nội dung Đ nói chuyện với Ba liên quan đến việc chạy án cho Ba. Đưa vào hồ sơ vụ án
- - 01 điện thoại Samsung S21 Ultra 5G màu đen, số sêri: R5CRI0MVJMA của bị cáo Phan Công Đ. Không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện C đã giao điện thoại trên cho Nguyễn Văn Thiên T (em trai của Đ), sinh năm 1998, thường trú: 158/2, ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, theo nguyện vọng của Đ.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại yêu cầu bị cáo Đ trả lại số tiền 350.000.000 đồng đã chiếm đoạt bị cáo đã bồi thường xong.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Phan Công Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Công Đ: 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Công Đ phải bồi thường cho ông Dương Văn O và bà Nguyễn Thị B1 số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tội danh:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
- Về kháng cáo và hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án 08 năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; tại cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dung cho bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo có 01 tiền sự, phạm tội nhiều lần nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo giảm cho bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù là phù hợp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nhân thân, lý lịch bị cáo:
Ngày 22/02/2017, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 7 của Văn bản hợp nhất Luật xử lý vi phạm hành chính số 20/VBHN-QH ngày 29-12-2022 của Quốc hội quy định “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”. Do đó, xác định bị cáo có nhân thân đã từng bị xử phạt vi phạm hình chính không phải là tiền sự; Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 01 tiền sự là không chính xác, cấp phúc thẩm điều chỉnh cho phù hợp.
[3] Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; có đủ căn cứ xác định: Bị cáo không phải là người có chức năng, nhiệm vụ giải quyết việc cho người bị tạm giữ, tạm giam được tại ngoại, không phải là người được trực tiếp phân công giải quyết vụ án hình sự nhưng vẫn liên hệ với người nhà của Đỗ Văn B2 (đang bị tạm giam để điều tra về hành vi đánh bạc) để yêu cầu đưa số tiền 350.000.000 đồng cho bị cáo, giải quyết việc tại ngoại. Sau khi nhận tiền, bị cáo chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh trên là đúng người, đúng tội.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
4.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo và gia đình bị hại thỏa thuận số tiền để Dương Văn B được tại ngoại là 350.000.000 đồng; đưa trước số tiền 250.000.000 đồng, sau đó đưa thêm 100.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo không xem là phạm tội từ 02 lần trở lên; do đó, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; đã nộp khắc phục toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên; trước khi phạm tội bị cáo tham gia Đội hỗ trợ phòng chống tội phạm huyện T có nhiều đóng góp trong hoạt động phòng, chống tội phạm tại địa phương; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo hiện đang mắc bệnh (có khối u sau đầu) đang điều trị, uống thuốc tại y tế Trại giam Công an tỉnh Đ là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.
[5] Về kháng cáo và hình phạt:
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, tại cấp sơ thẩm quanh co, không thừa nhận hành vi phạm tội nên mức hình phạt 08 năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng quy định. Tuy nhiên, xét thấy tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo đang bị tạm giam đã chủ động tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị cáo bị truy tố nhưng nằm trong khung hình phạt liền kề thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ trách nhiệm dân sự theo nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Bị hại ông Dương Văn O và bà Nguyễn Thị B1 được liên hệ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận khoản tiền bồi thường theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tiếp tục tạm giữ số tiền 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000840 (do anh Nguyễn Phan Bảo S nộp thay) đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo thi hành án cho ông Dương Văn O, bà Nguyễn Thị B1.
[7] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phan Công Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Chấp nhận một phần ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Công Đ; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ về hình phạt do có tình tiết mới.
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phan Công Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Công Đ 05 (năm) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 25-9-2023.
2. Biện pháp ngăn chặn:
Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Công Đ theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử phúc thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ trách nhiệm dân sự theo nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm số: 78/2024/HS-ST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ. Bị hại ông Dương Văn O và bà Nguyễn Thị B1 được liên hệ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận khoản tiền bồi thường theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tiếp tục tạm giữ số tiền 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) theo Biên lai thu số 0000840 (do anh Nguyễn Phan Bảo S nộp thay) đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo thi hành án cho ông Dương Văn O, bà Nguyễn Thị B1.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phan Công Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 142/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 142/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần kháng cáo
