|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 142/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-12-2024. “V/v Tranh chấp ly hôn, con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn
Ông Nguyễn Tất Bẩy
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXX -HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Leo Thị D, sinh năm 1994 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Anh Lý Văn H, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 08/8/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Leo Thị D trình bày:
Chị và anh Lý Văn H kết hôn với nhau ngày 06/12/2011 đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn anh chị đã được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn chị về nhà anh H làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau nên hay cãi nhau, mâu thuẫn trầm trọng từ tháng 8/2024 anh H thường xuyên đe dọa đánh, giết chị khiến chị phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lý Văn H.
Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Lý Đức H1, sinh ngày 12/4/2013 và Lý Quang V, sinh ngày 19/8/2017. Ban đầu chị D có nguyện vọng nuôi cháu V nhưng quá trình giải quyết vụ án chị D đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị D có nguyện vọng để anh H nuôi cả 02 con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 25/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lý Văn H trình bày:
Anh xác định thời điểm kết hôn và có mâu thuẫn như chị D trình bày là đúng. Tuy nhiên nguyên nhân do anh đi làm ăn, buôn bán bị thua lỗ nên phải vay nợ dẫn đến vợ chồng cãi nhau, không có tiếng nói chung, trong lúc cãi nhau nóng giận anh có đánh chị D khiến chị D bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái nên chị D xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn với chị D.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung như chị D trình bày là đúng. Nếu phải ly hôn anh có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung, anh không yêu cầu chị D phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh và chị D không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy ý kiến của con chung cháu Lý Đức H1 và cháu Lý Quang V đều trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở cùng bố Lý Văn H.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Leo Thị D và bị đơn anh Lý Văn H vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Leo Thị D và anh Lý Văn H trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Leo Thị D được ly hôn với anh Lý Văn H.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho anh Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Đức H1, sinh ngày 12/4/2013 và Lý Quang V, sinh ngày 19/8/2017 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác của Tòa án. Chị Leo Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị Leo Thị D có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Leo Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Leo Thị D khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Lý Văn H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Leo Thị D và bị đơn anh Lý Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị D, anh H.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Leo Thị D và anh Lý Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị xã T ngày 06/12/2011, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Leo Thị D và anh Lý Văn H là hợp pháp. Quá trình chung sống chị D cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, anh H cho rằng do anh đi làm ăn, buôn bán bị thua lỗ nên phải vay nợ dẫn đến vợ chồng cãi nhau, không có tiếng nói chung, trong lúc cãi nhau nóng giận anh có đánh chị D. Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù chị D và anh H mỗi người đưa ra một nguyên nhân mâu thuẫn khác nhau nhưng cả hai đều xác định vợ chồng có mẫu thuẫn, cãi nhau và thực tế chị D và anh H đã ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị D và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX cần chấp nhận yêu cầu của chị D, cho chị Leo Thị D được ly hôn anh Lý Văn H.
[4]. Về con chung: Chị Leo Thị D và anh Lý Văn H đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Lý Đức H1, sinh ngày 12/4/2013 và Lý Quang V, sinh ngày 19/8/2017. Cả chị D và anh H đều thống nhất để anh H trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con; cháu H1 và cháu V cũng có nguyện vọng được ở cùng anh H sau khi bố mẹ ly hôn. Căn cứ các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử thấy cần công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, giao cho anh Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Đức H1, sinh ngày 12/4/2013 và Lý Quang V, sinh ngày 19/8/2017 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác của Tòa án. Chị Leo Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị Leo Thị D có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Leo Thị D và anh Lý Văn H cùng xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Leo Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự chị Leo Thị D và anh Lý Văn H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Leo Thị D.
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị Leo Thị D được ly hôn anh Lý Văn H.
- Về quan hệ con chung: Giao cho anh Lý Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lý Đức H1, sinh ngày 12/4/2013 và Lý Quang V, sinh ngày 19/8/2017. Chị Leo Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, chị Leo Thị D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở chị D thực hiện quyền này của mình.
- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Leo Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006376 ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Xác nhận chị D đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Công Định |
Bản án số 142/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 142/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị D ly hôn anh H
