|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST
Ngày: 06/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai, theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 136/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Vũ Văn T, sinh 1995, nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và con bà Nguyễn Thị K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 18/9/2024 đến ngày 24/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Trần Tuấn A, sinh năm 2003, nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; chị Luyện Thị H, sinh năm 2006, nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và anh Trương Bá N, sinh năm 1998, Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Huy Q, sinh năm 1967, nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 18/9/2024, tại khu vực trước cổng Công ty M ở khu công nghiệp T, thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang Vũ Văn T, sinh năm 1995 ở thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề cho Luyện Thị H, sinh ngày 11/3/2006 ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên với các số lô 00, 18, 81, 77, mỗi số 20 điểm và số đề 77, 18, 81, 25, 52, 44, 33, 22, 11 mỗi số 100.000đồng, hết số tiền là 2.740.000đồng và Trần Tuấn A, sinh năm 2003 ở tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên với số lô 03, 30, 05, 50, 80 mỗi số 20 điểm và 01 số đề 08 hết số tiền 2.400.000đồng. Tổng số tiền ghi số lô, số đề là 5.140.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên tay phải của T số tiền 5.140.000 đồng (được niêm phong ký hiệu T1), thu tại tay trái của Tính 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone Pramax, màu vàng bên trong lắp 01 sim Viettel số 0966.790.xxx (được niêm phong ký hiệu ĐT1); thu của Trần Tuấn A 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (5x10)cm, ghi các chữ, số tự nhiên “lô 03, 30, 05, 50, 80 x20 điểm. Đề 80x100 nghìn”. Ngoài ra, ngày 17/9/2024, T còn có hành vi ghi các số đề 00, 20, 23 với tổng số tiền 60.000 đồng cho Trương Bá N, sinh năm 1998 ở thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Đối với Luyện Thị H, Trần Tuấn A có hành vi mua số lô, số đề của Vũ Văn T và Trương Bá N có hành vi mua số đề của Vũ Văn T với số tiền 60.000đồng. Ngày 19/11/2024, Công an huyện Y ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H, Tuấn A, N và T về hành vi đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 144 ngày 31/12/2014 của Chính Phủ.
Đối với Vũ Hữu Tuấn A1, sinh năm 1999 ở thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo T khai là người sẽ nhận mua số lô, số đề do T nhận của người chơi để hưởng chênh lệch. Quá trình điều tra, không có căn cứ xác định Tuấn A1 đồng phạm với T về hành vi đánh bạc nên không xử lý.
Tổng số tiền 5.140.000 đồng hiện đang quản lý tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Y mở tại Ngân hàng N1 chi nhánh huyện Y; 01 mảnh giấy màu trắng kích thước (5x10)cm, ghi các chữ, số tự nhiên là vật chứng đi theo tài liệu hồ sơ vụ án; 01 điện thoại di dộng Iphone Pramax, màu vàng bên trong lắp 01 sim Viettel số 0966.790.xxx hiện đang quản lý tại Kho vật chứng của Công an huyện Y.
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 141/QĐ-VKS-YM ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y đã truy tố Vũ Văn T về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, ngoài ta bị cáo trình bày hiện bị cáo đang làm Công nhân tại Công ty M đến nay hơn 5 năm, thu nhập từ 7 triệu đồng đến 9 triệu đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bà Nguyễn Thị K mẹ bị cáo trình bày bị cáo T là lao động chính trong gia đình, bà bị ung thư trực tràng cách đây 5 năm, giờ lại mắc bệnh ung thư gan đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội Đánh bạc; Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó. các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản vụ việc; biên bản khám xét; vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định: Với động cơ, mục đích vụ lợi khoảng 17 giờ ngày 18/9/2021, Vũ Văn T có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề cho Luyện Thị H và Trần Tuấn A với số tiền 5.140.000 đồng.
Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số lô, số đề là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Vũ Văn T về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 là đúng người, đúng pháp luật.
- [3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của cờ bạc, hành vi bị pháp luật cấm nhưng vì động cơ, mục đích vụ lợi, vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
-
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng; tại phiên toà mẹ bị cáo giao nộp đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương, các tài liệu xác định bà K đang điều trị hoá trị nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [5]. Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của bản thân như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tại phiên toà là phù hợp.
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
[7]. Về các biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền 5.140.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Promax thu giữ của bị cáo T đây là các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 60.000 đồng bị cáo đã nhận ghi lô đề cho anh N, cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.
- [8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
-
Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn T 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
Tiền phạt nộp một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.140.000 đồng và 01 niêm phong ký hiệu T1, bên trong niêm phong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Pro Max màu vàng, có sô IMEI: 359735195316946, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng V, có số thuê bao 0966.790.959, trên thẻ sim có các dãy số 89840, 48000, 92796, 8095. (Số tiền trên hiện đang có tại tài khoản của Chi cục THA DS huyện Y).
- - Truy thu của bị cáo Vũ Văn T 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng đã chuyển Chi cục THA DS huyện Y theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03 tháng 12 năm 2024).
- Về án phí: Bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về đánh bạc
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc bằng hình thức ghi số lô số đề
