Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 142/2024/HS-ST

Ngày: 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trương Thị Gái

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Mạnh Hùng và bà Bùi Thị Hà

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: ông Trần Xuân Vọng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 13/11/2024 đối với các bị cáo họ và tên:

1. Vũ Ngọc L; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 18/7/1976, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa; lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vũ Ngọc T và con bà Âu Thị M; vợ: Lương Thị T1, sinh năm 1978; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 16/6/2024, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố C. Có mặt.

2. Nguyễn Xuân T2; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 09/9/1987, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Công nhân Công ty T8, trình độ văn hóa: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Viết B và con bà Nguyễn Thị Đ; vợ; con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

3. Phạm Thanh B1; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 21/10/1984, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ F, khu P, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Đức M1 và con bà: Đỗ Thị T3; vợ: Trần Thị X (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/01/2019 Công an thành phố C xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong.

Ngày 09/10/2019 Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) thành phố C, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 02/9/2020.

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 15/6/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Đỗ Thị T3, sinh năm 1963; Nơi cư trú: tổ F, khu P, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Hồng G, sinh năm: 1985, nơi cư trú: tổ B, khu D, phường C, thành phố C, Quảng Ninh.
  2. Chị Lê Thị T4, sinh năm: 1985; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
  3. Anh Nguyễn Minh T5, sinh năm 1996; nơi cư trú: tổ F, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
  4. Anh Ân Thế M2, sinh năm: 1986; nơi cư trú: tổ H, khu G, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.
  5. Anh Ngô Dương K, sinh năm: 1988; nơi cư trú: tổ B, khu G, phường C, thành phố C, Quảng Ninh.

(Người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 23 giờ 00 phút, ngày 14/6/2024, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố C kiểm tra hành chính Nguyễn Xuân T2 tại tổ E khu C phường C, thành phố C, phát hiện các đối tượng gồm Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1, Nguyễn Hồng G, Lê Thị T4 có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Trên mặt bàn kính phòng khách tầng một: 01 Chai nhựa có nắp màu xanh, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng, 01 lỗ gắn ống nỏ thủy tinh 01 đầu uốn cong có bầu tròn, bên trong bầu có dính chất tinh thể dạng vết; 01 Bật lửa ga màu trắng không có phần nắp sắt bảo vệ, tại đầu vòi của bật lửa gắn đoạn ống quấn bằng giấy bạc màu trắng; 01 Đoạn

ống nhựa màu đỏ kích thước khoảng (1,8x2,5) cm, một đầu hàn kín, bên trong có dính chất tinh thể màu trắng và 01 Chiếc kéo kim loại.

Ngày 15/6/2024 Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Xuân T2, Phạm Văn B2 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tạm giữ của T2 01 Điện thoại nhãn hiệu Redmi lắp 02 sim; Tạm giữ của B2 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo không có sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila BKS 14T4-9413.

Ngày 16/6/2024 tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Vũ Ngọc L về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; thu giữ tại ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ của L: 01 Túi nilon kích thước (6x9) cm (ký hiệu M1); 01 Túi nilon kích thước (6x9,5) cm (ký hiệu M2) bên trong đều chứa chất tinh thể trắng; 01 Hộp nhựa bên trong chứa 06 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng (ký hiệu từ M3 đến M8) và 05 Đoạn ống hút nhựa màu trắng sọc đỏ được hàn kín hai đầu (mỗi đoạn kích thước (1,8x3) cm (ký hiệu M9 đến M13) bên trong đều chứa vật chất; 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung, lắp sim số [...]; 01 Điện thoại nhãn hiệu Itel lắp 02 sim số 0862753124 và 0395668847; 01 Cân tiểu ly màu đen.

Bản kết luận giám định số 913/KL-KTHS ngày 20/6/2024, số 920/KL-KTHS ngày 21/6/2024 và số 928/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và trong 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ một đầu hàn kín gửi giám định. Khối lượng: dạng vết, không xác định được. H lại: 01 ống thủy tinh và 01 đoạn ống hút nhựa.

Tìm thấy chất ma túy, loai Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1, Lê Thị T4 và Nguyễn Hồng G. Mẫu vật đã sử dụng hết. Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M13 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 7,085 gam (bảy phảy không tám năm gam); H lại tổng khối lượng 6,43 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 đều khai nhận hành vi phạm tội;

Bị cáo Vũ Ngọc L khai nhận: trong ngày 12/6/2024 và ngày 14/6/2024 bị cáo đã hai lần bán ma túy cho Nguyễn Xuân T2, mỗi lần bán 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng tại cổng nhà bị cáo, ma túy đều được chứa trong ống hút nhựa hàn kín hai đầu, ngày 14/6/2024 T2 mua ma túy đã chuyển trả đủ số tiền nợ ngày 12/6/2024, số ma túy bị thu giữ khi khám xét và ma túy đem bán cho T2 là bị cáo mua của người tên T6 (không rõ lai lịch địa chỉ) vào thời gian trước khi bị bắt 01 tuần với giá 10.000.000 đồng tại khu vực bờ hồ B phường C, thành phố C, bị cáo đem về chia nhỏ vào các đoạn ống hút nhựa hàn kín hai đầu đem bán kiếm lời.

Bị cáo Nguyễn Xuân T2 khai khai nhận: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/6/2024 bị cáo cùng Phạm Thanh B1, Nguyễn Hồng G, chị Lê Thị T4 ăn cơm tại nhà B1, hơn 20 giờ cùng ngày cả nhóm về nhà T2 có G và chị T4 ở nhà, còn B1 lái xe mô tô Attila, BKS 14T4-9413 cùng bị cáo lái xe mô tô Honda Wave, BKS 14U1-413.70 đến hiệu cầm đồ, sau khi bị cáo cầm cố xe cho anh M2 được 1.000.000 đồng, bị cáo hỏi L mua 300.000 đồng ma túy đá, L hẹn đến bức tường nhà nhận ma túy là đoạn ống hút nhựa bên trong chứa ma túy, khi đi B1 lái xe mô tô BKS 14T4-9413 chở bị cáo, đến Cổng Bệnh viện Đ1 bị cáo đưa nhờ anh K chuyển vào tài khoản cá nhân 1.000.000 đồng để bị cáo trả L 600.000 đồng tiền mua ma túy (trong đó có 300.000 đồng trả nợ tiền mua ma túy ngày 12/6/2024), mua được ma túy của L bị cáo đem về nhà để trên mặt bàn phòng khách, B1 đã dùng kéo cắt 01 đầu ống hút nhựa đổ ma túy vào nỏ thủy tinh, bị cáo và B1 đều châm lửa tạo khói để bốn người lần lượt sử dụng, bị cáo được sử dụng 3-4 lượt. Đến 23 giờ cùng ngày bị Công an phát hiện.

Trước đó, khoảng 20 giờ ngày 12/6/2024 cũng tại cổng nhà Vũ Ngọc L, bị cáo mua của L 01 đoạn ống hút nhựa bên trong chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng nhưng nợ tiền, đến ngày 14/6/2024 bị cáo chuyển khoản trả tiền cho L, số ma túy mua được bị cáo đã sử dụng hết.

Bị cáo Phạm Thanh B1 khai nhận nội dung lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2; Cụ thể: tối ngày 14/6/2024 sau khi ăn cơm tối cùng T2, anh G, chị T4; bị cáo đi xe mô tô BKS 14T4-9413 mượn của bà Đỗ Thị T3 cùng T2 lái xe mô tô Honda Wave, BKS 14U1-413.70 đến hiệu cầm đồ ở khu vực phường C, đến nơi T2 cầm cố xe, xong bị cáo lái xe mô tô chở T2 đến 01 ngõ nhỏ ở phường C, T2 vào mua ma túy đem về nhà, T2 để ống nhựa đựng ma túy ra bàn, bị cáo trực tiếp cắt một đầu ống nhựa đổ ma túy vào nỏ thủy tinh, bị cáo và T2 đều châm lửa tạo khói để cả bốn người lần lượt sử dụng ma túy, bị cáo được sử dụng 3-4 lượt cho đến khi hết ma túy, đến 23 giờ cùng ngày bị Công an kiểm tra.

Người làm chứng chị Lê Thị T4, anh Nguyễn Hồng G đều khai nhận là người sử dụng ma túy đá, khoảng 19 giờ ngày 14/6/2024 chị T4, anh G cùng B1, T2 ăn cơm tại nhà B1 ở phường C, ăn song cả nhóm đến nhà T2 chơi được một lúc T2 nói đi cầm cố xe để có tiền mua ma túy đá sử dụng, sau đó T2 và B1 đi hai xe máy rời khỏi nhà, khi về T2 vào góc nhà lấy ra bộ đồ sử dụng ma túy, còn B1 cầm đoạn ống hút dùng kéo cắt một đầu rồi đổ ma túy đá vào nỏ thủy tinh, B1 bật lửa đốt châm lửa tạo khói rồi tự sử dụng ma túy đá, B1 quay ống sang để G sử dụng, tiếp theo đến T2, chị T4 lần lượt sử dụng, chị T4 được sử dụng 2-3 lượt thì Công an đến kiểm tra thu giữ bộ đồ sử dụng ma túy và 01 bật lửa ga, 01 đoạn ống hút nhựa bên trong dính chất tinh thể màu trắng; sử dụng ma túy do T2 khởi xướng.

Anh Ngô Dương K khai nhận làm nghề kinh doanh phụ kiện ốp, dán điện thoại tại Cổng Bệnh viện Đ1 và làm dịch vụ chuyển tiền qua áp Ngân hàng. Tối ngày 14/6/2024 tôi ở gian hàng trước bệnh viện khoảng 22 giờ cùng ngày có 02 thanh niên đi xe mô tô đến (sau này tôi biết là T2), T2 đưa tôi 1.000.000 đồng nhờ tôi chuyển tiền vào tài khoản cho anh, tôi không biết là sau đó họ giao dịch mua bán ma túy.

Anh Nguyễn Minh T5 khai nhận: quen biết T2 và là chủ xe BKS 14U1-413.70, T2 mượn xe đến ngày 14/6/2024 T2 nói đem xe cầm cố tại hiệu cầm đồ của M2, một hai ngày T2 chuộc xe trả tôi, ngày 15/6/2024 nghe tin T2 bị bắt tôi đã chuộc lại xe với số tiền 1.000.000 đồng. Nay số tiền chuộc xe 1.000.000 đồng tôi không có yêu cầu đề nghị gì, tôi tự chịu trách nhiệm.

Anh Ân Thế M2 khai nhận quen biết Nguyễn Xuân T2, hồi 21 giờ 40 phút ngày 14/6/2024 T2 cùng bạn đi 2 xe mô tô đến gặp tôi đề nghị cầm xe mô tô BKS 14U1-413.70 với giá 1.000.000 đồng, tôi nhận ra xe mô tô của Nguyễn Mạnh T7 là bạn xã hội của tôi và T2, xe mô tô T7 đã từng cầm ở nhà tôi, tôi đưa T2 số tiền 1.000.000 đồng và hẹn 2-3 ngày chuộc về, sau khi T2 bị bắt T7 đến đưa ra giấy tờ và chuộc lại xe với số tiền 1.000.000 đồng, tôi không biết việc T2 cầm xe lấy tiền mua ma túy sử dụng.

Bản Cáo trạng số: 2848/CT-VKSCP ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Vũ Ngọc L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Ngọc L;

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1.

Xử phạt: Vũ Ngọc L từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/6/2024.

Xử phạt: Nguyễn Xuân T2 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

Xử phạt: Phạm Thanh B1 từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

Đề nghị áp dụng: Điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: gồm 01 Điện thoại nhãn hiệu Redmi thu của bị cáo T2; 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung và 01 Điện thoại nhãn hiệu Itel đều thu của bị cáo L là phương tiện phạm tội.

Đối với 6,43 gam ma túy loại Methamphetamine do cơ quan giám định hoàn lại là vật cấm lưu hành; 01 Ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và 01 Đoạn ống hút nhựa màu đỏ do cơ quan giám định hoàn lại; 01 Bật lửa ga; 01 Chiếc kéo; 01 Cân tiểu ly; 01 Hộp nhựa; 01 chai nhựa; 02 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo T2; 03 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo L đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Truy thu buộc bị cáo Vũ Ngọc L phải nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Trả lại bị cáo Phạm Thanh B1 01 Điện thoại nhãn hiệu Oppo do không có căn cứ chứng minh có liên quan đến việc phạm pháp.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại bà Đỗ Thị T3 01 xe mô tô BKS 14T4-9413, bà T3 không biết việc bị cáo B1 sử dụng phương tiện đi mua ma túy, bà đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Tại phiên tòa các bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 đều khai nhận tội, các bị cáo không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo Vũ Ngọc L khai nhận khoảng 20 giờ ngày 12/6/2024 và khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, tại tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Vũ Ngọc L có hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, mỗi lần 300.000 đồng cho Nguyễn Xuân T2, ngoài ra Vũ Ngọc L còn có hành vi tàng trữ 7,085 gam (bảy phảy không tám năm gam) ma túy, loại Mehamphetamine để bán.

Trong khoảng thời gian hơn 22 giờ đến 23 giờ gày 14/6/2024 tại nhà của Nguyễn Xuân T2 ở tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức

cho anh Nguyễn Hồng G, chị Lê Thị T4 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết luận giám định số 913, 920, 928/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh Q, lời khai bà Đỗ Thị T3, anh Nguyễn Hồng G, chị Lê Thị T4, Biên bản xác định địa điểm mua bán ma túy, Biên bản bắt giữ khẩn cấp và khám xét nơi ở đối với các bị cáo, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác.

Từ đó có đủ căn cứ kết luận: khoảng 20 giờ ngày 12/6/2024 và khoảng 22 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, tại tổ E, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Vũ Ngọc L có hành vi hai lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, mỗi lần 300.000 đồng cho Nguyễn Xuân T2, ngoài ra Vũ Ngọc L còn có hành vi tàng trữ 7,085 gam (bảy phảy không tám năm gam) ma túy, loại Mehamphetamine để bán.

Trong khoảng thời gian hơn 22 giờ đến 23 giờ gày 14/6/2024 tại nhà của Nguyễn Xuân T2 ở tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 có hành vi tổ chức cho nhau và tổ chức cho anh Nguyễn Hồng G, chị Lê Thị T4 sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phát hiện bắt giữ đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố các bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 như nội dung bản Cáo trạng số 2848/CT-VKSCP ngày 04/11/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội.

Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma túy gây mất trật tự tại địa phương, các bị cáo trong vụ án đều biết được tác hại của ma túy song do thiếu tu dưỡng, rèn luyện với bị cáo Vũ Ngọc L do tham lợi và để có tiền tiếp tục mua ma túy sử dụng, trong các ngày 12/6/2024 và ngày 14/6/2024 bị cáo L đã hai lần bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, mỗi lần 300.000 đồng cho Nguyễn Xuân T2, khi khám xét nơi ở bị cáo L còn cất giấu trái phép 7,085 gam (bảy phảy không tám năm gam) ma túy, loại Mehamphetamine để bán. Hành vi bị cáo Lương thực H1 là hoàn toàn độc lập, bị cáo L bị truy tố xét xử theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo T2 là người rủ rê, khởi xướng việc sử dụng ma túy, bị cáo T2 mượn xe mô tô của anh T7 đem cầm cố, là người trực tiếp đi mua ma túy, là người chuẩn bị bộ đồ sử dụng ma túy, bị cáo T2 và B1 nhiều lần châm lửa tạo khói mời nhau và nhiều lần mời anh G, chị T4 sử dụng cho đến khi hết ma túy,

vụ án mang tính đồng phạm, bị cáo T2 với vai trò, vị trí đứng đầu trong vụ án nên hình phạt đối với T2 cao hơn so với bị cáo Phạm Thanh B1 là thỏa đáng.

Đối với bị cáo bị cáo Phạm Thanh B1 là người được T2 rủ rê việc sử dụng ma túy, bị cáo đi cùng T2 khi T2 cầm cố tài sản để lấy tiền mua ma túy, B1 lái xe mô tô chở T2 đi mua ma túy, là người đưa ma túy vào nỏ thủy tinh, bị cáo B1 và T2 nhiều lần châm lửa tạo khói mời nhau và nhiều lần mời anh G, chị T4 sử dụng cho đến khi hết ma túy; bị cáo B1 với vai trò thứ yếu nên hình phạt đối với bị cáo B1 thấp hơn so với bị cáo T2 là phù hợp. Bị cáo phạm T9 phạm tội trong khi có nhân thân xấu, năm 2019 bị cáo bị Công an thành phố C phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và bị TAND thành phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo không coi đây là bài học kinh nghiệm cho bản thân, nay phạm tội. Hành vi các bị cáo phạm phải cần xử phạt nghiêm.

Song cần xét: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra cả ba bị cáo đều khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra hối cải nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả ba bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3] Hình phạt bổ sung: cả ba bị cáo thu nhập đều không ổn định nên không phạt bổ sung (phạt tiền) đối với cả ba bị cáo.

[4] Về vật chứng: 01 Điện thoại nhãn hiệu Redmi thu của bị cáo T2; 01 Điện thoại nhãn hiệu Samsung và 01 Điện thoại nhãn hiệu Itel đều thu của bị cáo L là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Số ma tuy 6,43 gam, loại Methamphetamine do có quan giám định hoàn lại trong niêm phong số 928/ KL-KTHS là vật cấm lưu hành, 01 Ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu và 01 Đoạn ống hút nhựa màu đỏ một đầu hàn kín trong niêm phong số 913/KL-KTHS của phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 Bật lửa ga, 01 Chiếc kéo, 01 Cân tiểu ly, 01 Hộp nhựa, 01 chai nhựa, 02 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo T2, 03 Sim điện thoại thu giữ của bị cáo L đều không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Buộc bị cáo Vũ Ngọc L phải nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 Điện thoại nhãn hiệu Oppo thu của bị cáo B1 do không có căn cứ chứng minh có liên quan đến việc phạm pháp nên trả lại Phạm Thanh B1.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại bà Đỗ Thị T3 01 Xe mô tô BKS 14T4-9413, bà T3 không biết việc bị cáo B1 sử dụng phương tiện đi mua ma túy, tại phiên tòa bà T3 không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Anh Nguyễn Minh T5 trình bày cho T2 mượn xe mô tô BKS 14U1-413.70 đem cầm cố, sau khi T2 bị bắt giữ anh T5 đã tự chuộc lại xe mô tô, anh không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đề cập.

Anh Ân Thế M2 là người cầm cố xe mô tô BKS 14U1-413.70, anh Ngô Dương K là người chuyển tiền vào tài khoản cho T2 nhưng các anh không biết việc T2 mua ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý.

Anh Nguyễn Hồng G, chị Lê Thị T4 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố C đã Quyết định xử phạt hành chính.

[5] Bị cáo Vũ Ngọc L khai nhận số ma túy bán cho T2 và số ma túy bị thu giữ khi khám xét tại nơi ở là L mua của người tên T6 không rõ lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Ngọc L;

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1;

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Vũ Ngọc L 09 (chín) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 16/6/2024.

Xử phạt: Nguyễn Xuân T2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

Xử phạt: Phạm Thanh B1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 15/6/2024.

Căn cứ: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh, màn hình có vết nứt (điện thoại thu giữ của Nguyễn Xuân T2); 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh và 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Itel (điện thoại thu giữ của Vũ Ngọc L); các điện thoại đều đã qua sử dụng, đã cũ.

Tịch thu tiêu hủy: 6,43 gam ma túy, loại Methamphetamine trong 01 Phong bì niêm phong số 928/ KL-KTHS; 01 Ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu và 01 Đoạn ống hút nhựa màu đỏ một đầu hàn kín trong 01 Phong bì niêm phong số 913/KL-KTHS đều của phòng K1 Công an tỉnh Q; 01 Bật lửa ga; 01 Kéo bằng kim loại; 01 Hộp nhựa; 01 Chai nhựa; 01 Cân tiểu ly; 02 Chiếc sim điện thoại thu giữ của Nguyễn Xuân T2; 03 Chiếc sim điện thoại thu giữ của Vũ Ngọc L.

Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh B1 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh (điện thoại thu giữ của Phạm Thanh B1), điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng; Vật chứng được thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 21/BB-THA ngày 06/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Buộc bị cáo Vũ Ngọc L phải nộp lại 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh ;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - CQĐT CA thành phố Cẩm Phả;
  • - CQTHA HS thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS tp Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam;
  • - Các bị cáo; Người có quyền lợi
  • nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS - VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 142/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Các bị cáo Nguyễn Xuân T2, Phạm Thanh B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger