Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 642/2024/DS-PT

Ngày: 01/11/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

đặt mua bất động sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trần Thị Liên Anh

Các Thẩm phán:

Ông Trương Chí Anh

Bà Ngô Tuyết Băng

Thư ký phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Bà Nguyễn Thị Phương Lan, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2024/TLPT-DS ngày 16/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 453/2024/QĐ-PT ngày 16/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 574/2024/QĐPT-HPT ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự sau:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1970;

HKTT: Số A, ngách H, ngõ A M, tổ A phường M, quận C, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1995; Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996; Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng: 3365, quyển số 06/2024/TPCC-SCC/HĐGD gày 28/6/2024)

Bị đơn: Công ty cổ phần K1 (Tên viết tắt là: K1); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng G, Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn H2, Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành V; Bà Nguyễn Thị Thanh H3; Ông Vũ Nghị L1; Bà Cao Thị Ngọc M; Bà Nguyễn Kiều O (Theo giấy ủy quyền số: 35/2024/GUQ-KSHOMESPLUS ngày 28/6/2024 của Công ty cổ phần K1);

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần T3 (Tên viết tắt là: Sunshine Group); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng I, Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T1; Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trà M1; Ông Nguyễn Văn K; Ông Phạm Đình L2; Bà Phạm Thị L3 (Theo văn bản ủy quyền số: 66/2024/UQ-SSGD ngày 2/7/2024 của Sunshine Group);

Do có kháng cáo của Công ty cổ phần T3 (Tên viết tắt là: Sunshine Group) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 2022, bà H sử dụng ứng dụng KS Invest qua app điện thoại để cho Công ty Cổ phần Đ (“KSHomes Plus”) vay thông qua các danh mục đầu tư ghi nhận chi tiết trên ứng dụng trên. Theo đó, bà H đã xác lập 01 giao dịch cho vay dưới hình thức là Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản với KS Homes Plus, cụ thể như sau:

STT Số hợp đồng Số tiền cho vay (VNĐ) Lãi suất Thời hạn hợp đồng
1 Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022 3.000.000.000 8.4%/năm 03 tháng kể từ ngày 24/9/2022 đến ngày 26/12/2022

Đến nay, hợp đồng trên đã hết thời hạn thực hiện, mặc dù đã rất nhiều lần bà H liên hệ đến bộ phận phụ trách kinh doanh của Công ty Đ; trực tiếp đến trụ sở văn phòng công ty để yêu cầu trả tiền gốc và lãi (lợi ích cố định). Tuy nhiên, KS Homes Plus đã không có bất kỳ động thái nào trả tiền gốc và tiền lãi cho bà H theo theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng các bên đã ký kết. Do đó, ngày 25/02/2023 (lần 1) và ngày 15/3/2023 (lần 2) bà H đã có đơn đề nghị chấm dứt gia hạn hợp đồng trên, yêu cầu Đ trả số tiền gốc và lãi cho bà H nhưng công ty này đã không thực hiện bất kỳ yêu cầu nào của bà H.

Ngày 18/8/2023, căn cứ thư bảo lãnh do Công ty Cổ phần T3 phát hành ngày 16/12/2022 để bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng của công ty Đ đối với các nhà đầu tư như bà H, bà H tiếp tục gửi đơn đề nghị tới Công ty Cổ phần T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán thay cho KS Homes Plus các nghĩa vụ tại hợp đồng mà bà H đã ký với KS Homes Plus. Nhưng, đến nay, Công ty Cổ phần T3 vẫn không có bất kỳ phản hồi nào về yêu cầu này của bà H.

Tính đến ngày bà H chính thức nộp đơn khởi kiện, tổng số tiền gốc bà H đã cho CTCP Đầu tư Đ vay dưới hình thức là Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản và số tiền lợi ích cố định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đã ký kết, các khoản tiền lãi chậm thanh toán theo quy định pháp luật chi tiết như sau:

STT Số hợp đồng Số tiền đầu tư (VNĐ) Lãi suất Thời hạn hợp đồng Lãi trong hạn phải trả (VNĐ) Lãi quá hạn phải trả Số tiền chậm trả đến ngày khởi kiện (VNĐ)
1 Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/09/2022 3.000.000.000 8.4%/năm 03 tháng kể từ ngày 24/09/2022 đến ngày 26/12/2022 64.208.219 10%/năm 429.863.014
Tổng 3.000.000.000 64.208.219 429.863.014

Đề nghị Tòa án căn cứ thẩm quyền của mình giải quyết cho bà H yêu cầu sau: Buộc CTCP Đầu tư KS Homes Plus thanh toán cho bà H số tiền đầu tư ban đầu là 3.000.000.000 VNĐ, số tiền lãi trong hạn (lợi nhuận cố định) phải thanh toán là 64.208.219 VNĐ, số tiền chậm thanh toán kể từ ngày đến hạn cho đến ngày khởi kiện 12/06/2024, tạm tính là: 429.863.014 VNĐ. Tổng số tiền CTCP Đầu tư Đ phải thanh toán cho bà H tạm tính đến ngày khởi kiện 12/06/2024 là: 3.494.071.233 VNĐ. Trường hợp công ty Đ không có khả năng thanh toán thì CTCP Tập đoàn T3 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà H số tiền nêu trên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng cho Công ty Đ.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần K1 trình bày:

Năm 2022, KSHomes Plus và bà Nguyễn Thị Hồng H có thỏa thuận ký kết hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản và hợp đồng đặt mua bất động sản với các nội dung cơ bản như sau:

- Mục đích: Bà Nguyễn Thị Hồng H chấp thuận sử dụng dịch vụ tư vấn, môi giới và thu xếp không độc quyền nhằm mục đích bà Nguyễn Thị Hồng H có thể đặt mua/thuê bất động sản của dự án theo quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên tại hợp đồng.

- Để bảo đảm cho việc (i) thực hiện các cam kết, nghĩa vụ của mình tại hợp đồng và (I) chứng minh năng lực tài chính của bà Nguyễn Thị Hồng H khi chủ đầu tư/bên chuyển nhượng thông báo ký hợp đồng giao dịch bất động sản bà Nguyễn Thị Hồng H đồng ý đặt cọc cho KSHomes Plus một khoản tiền (“Khoản Tiền Bảo Đảm Đặt Mua”).

- Trường hợp kết thúc thời hạn mà bà Nguyễn Thị Hồng H không nhận được thông báo về việc ký kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư/bên chuyển nhượng; hoặc đã nhận được thông báo nhưng không đồng ý giao kết hợp đồng giao dịch với chủ đầu tư, hợp đồng dịch vụ đặt mua sẽ chấm dứt kể từ thời điểm kết thúc thời hạn. Khoản tiền bảo đảm đặt mua cùng toàn bộ lợi ích còn lại mà bà Nguyễn Thị Hồng H được hưởng sau khi trừ các khoản khấu trừ (nếu có) theo hợp đồng đặt mua sẽ được KSHomes Plus hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Hồng H vào ngày hợp đồng đặt mua chấm dứt.

Thực hiện hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản nêu trên, KSHomes Plus đã nhận các khoản tiền bảo đảm đặt mua của bà Nguyễn Thị Hồng H với số tiền, thời gian cụ thể như sau:

Bảng kê Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản

giữa bà Nguyễn Thị Hồng H với KSHOMES PLUS

STT Ngày xác lập giao dịch Ngày đến hạn Số Hợp đồng Khoản Tiền Bảo Đảm ban đầu (VNĐ) Khoản Tiền Bảo Đảm còn lại (VNĐ) Lợi ích cố định
1 24.09.2022 26.12.2022 CSFH00037488 3,000,000,000 3,000,000,000 8.4%
Tổng 3,000,000,000 3,000,000,000

Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Quý IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng, chính sách siết chặt tín dụng của các ngân hàng ... đã khiến cho các công ty bất động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng K1 và các chủ đầu tư dự án bất động sản mà K1 có quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của K1.

Do đó, khi đến hạn hoàn trả giá trị khoản tiền bảo đảm đặt mua và lợi ích cố định theo hợp đồng đã ký kết, K1 chưa có khả năng thanh toán ngay cho bà Nguyễn Thị Hồng H theo đúng thỏa thuận.

Khi phát sinh vấn đề trên, K1 đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với bà Nguyễn Thị Hồng H để tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, K1 cũng đã hết sức nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo đảm quyền lợi của khách hàng. Cụ thể, trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã đề xuất khách hàng cảm thông và xem xét các phương án giải quyết như sau:

  1. Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty có thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời khách hàng sẽ được nhận thêm một khoản lợi nhuận bổ sung theo thỏa thuận của các bên.
  2. Chuyển đổi giá trị khoản tiền đầu tư sang thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine G, Sunshine G, Sunshine S, Sunshine D, Sunshine Capital Tây T, S, S, Sunshine P,...

Tuy nhiên đến nay, nguyên đơn và K1 vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. Chúng tôi vẫn rất nỗ lực và thiện chí mong muốn thương lượng, hòa giải để tìm được tiếng nói chung với nguyên đơn trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả hai bên.

K1 kính mong Quý Tòa tiếp tục tạo điều kiện cho các bên được thương lượng, hòa giải và xử lý vụ việc trên tinh thần thiện chí; chia sẻ và hỗ trợ cho K1 có thêm thời gian thu xếp các nguồn thu khác, để sớm có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP T3 trình bày:

Qua quá trình rà soát và đối chiếu các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty CP T3 đã phát hành 01 Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022.

Việc phát hành T2 bảo lãnh sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa Công ty CP T3 - Công ty CP K1 tại từng thời điểm. Công ty CP T3 không can thiệp, không chịu trách nhiệm đối với các nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đặt mua bất động sản giữa Công ty CP K1 và bà Nguyễn Thị Hồng H. Việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được thực hiện và tuân thủ trên cơ sở quy định pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan và theo các điều khoản, nội dung của Thư Bảo lãnh đã được Công ty CP T3 phát hành.

1. Đối với nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng:

Căn cứ Điều 342 Bộ luật dân sự quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh:

“1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại."

Theo đó, Nguyên đơn có trách nhiệm thực hiện các quyền yêu cầu thanh toán với bên có nghĩa vụ là Công ty K1 để đảm bảo trước tiên các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

2. Đối với nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo 01 Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022

Qua quá trình rà soát và đối chiếu với các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty CP T3 đã phát hành 01 thư bảo lãnh đề ngày 16/12/2022. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại hồ sơ đã sao chụp tại Tòa án và hồ sơ lưu trữ, Công ty CP T3 chưa nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Nguyên đơn nên hiện tại chưa có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo yêu cầu.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của

Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản”.
  2. Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty cổ phần T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/09/2022 và “Giấy chứng nhận” số CSFH00037488 ký ngày 24/09/2022, bao gồm:
    • - Khoản đầu tư gốc: 3.000.000.000 đồng;
    • - Khoản lợi nhuận trong hạn từ ngày 24/9/2022 đến ngày 26/12/2022: 64.208.219 đồng;
    • - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 là: 476.712.329 đồng.

Tổng số tiền Công ty cổ phần K1Công ty cổ phần T3 phải thanh toán cho Hợp đồng là 3.540.920.548 đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 xin xét xử vắng mặt. HĐXX công bố đơn kháng cáo và lời khai của Công ty cổ phần T3.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị HĐXX giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần K1 trình bày: Bị đơn đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Đối với kháng cáo của Công ty cổ phần T3 đề nghị HĐXX xem xét theo quy định.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội về cách tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về hình thức: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

2. Về nội dung:

Xét Hợp đồng đặt mua bất động sản: Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022 đều được kí kết bởi người có thẩm quyền kí kết, nội dung và hình thức của các thỏa thuận đúng quy định của pháp luật. Các bên đương sự kí kết Hợp đồng đặt mua bất động sản nêu trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự. Đối chiếu với nội dung của Hợp đồng đặt mua bất động sản cũng như quá trình thực hiện hợp đồng thấy: Công ty cổ phần K1 đã vi phạm thoả thuận trong Hợp đồng đã kí kết giữa hai bên, vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu chấm dứt HĐ đặt mua bất động sản đã ký với Công ty cổ phần K1Công ty cổ phần K1 thanh toán cho bà H số tiền gốc của Hợp đồng đã kí là 3.000.000.000 đồng, các lợi ích mà bà H được hưởng theo thoả thuận Hợp đồng đã kí giữa hai bên là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Theo đó tại Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022, lợi nhuận bà H được hưởng là 8,4%/năm tương đương với số tiền lợi ích (tính từ ngày 24/9/2022 đến ngày 26/12/2022 là 03 tháng: 64.208.219 đồng.

Xét khoản yêu cầu về lãi phát sinh trên nợ gốc của bà H: Nguyên đơn yêu cầu mức lãi phát sinh trên nợ gốc. Bản án sơ thẩm áp dụng Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tính mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm là phù hợp. Như vậy:

+ Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 là: 3.000.000.000 đồng x 10% x 589 ngày chậm thanh toán/365 = 484.109.589 đồng. Tuy nhiên phía bà H chỉ yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán là 476.712.329 đồng, nên chấp nhận.

Tổng số tiền gốc, lợi ích phát sinh và lãi chậm thanh toán Công ty CP K2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng H là: 3.540.920.548 đồng.

Xét yêu cầu Toà án buộc Công ty CP T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022:

Thấy:

“1. Phạm vi bảo lãnh: Các nghĩa vụ thanh toán của bên được bảo lãnh (kể cả nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bảo đảm đặt mua, chi trả lợi ích, bồi hoàn và bồi thường thiệt hại) cho bên nhân bảo lãnh phát sinh từ Hợp đồng.

2.Hiệu lực bảo lãnh: Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ ngày phát hành và hết hạn sau khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh nêu tại Mục I đã được thực hiện hoặc giải trừ đầy đủ: Khi bên nhận bảo lãnh chuyển nhượng Hợp đồng theo đúng quy định thì Thư bảo lãnh này cũng được tự động chuyển nhượng theo và có hiệu lực ràng buộc với bên nhận chuyển nhượng của bên nhận bảo lãnh".

Bà H đã giao nộp cho HĐXX Thư bảo lãnh của Công ty CP T3 phát hành ngày 16/12/2022. Đại diện Công ty T3 cũng thừa nhận thư bảo lãnh ngày 16/12/2022, công ty không nhận được thủ tục hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đầy đủ nên chưa có căn cứ để thực hiện bảo lãnh. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty CP T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận” số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022– theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022 là phù hợp.

Bản án sơ thẩm buộc Công ty CP K2 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là đúng nhưng cách tuyên như vậy chưa đầy đủ, đúng quy định pháp luật. Nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng do Công ty CP K2 vi phạm nên Công ty CP K2 có trách nhiệm phải thanh toán các khoản tiền theo thoả thuận. Trường hợp Công ty CP K2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty T3 mới phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với phần nghĩa vụ chưa được thực hiện của Công ty CP K2. Do đó cần sửa án sơ thẩm về cách tuyên, theo hướng buộc Công ty CP K2 phải thanh toán cho bà H số tiền theo thỏa thuận, trường hợp Công ty CP K2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX.

Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3.

Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp

Công ty CP K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 468 của Bộ luật dân sự;
  • - Khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản”.
  2. Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng H, trường hợp Công ty cổ phần K1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Công ty cổ phần T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ đặt mua bất động sản số CSFH00037488 ký ngày 24/09/2022 và “Giấy chứng nhận” số CSFH00037488 ký ngày 24/9/2022, bao gồm:
    • - Khoản đầu tư gốc: 3.000.000.000 đồng;
    • - Khoản lợi nhuận trong hạn từ ngày 24/9/2022 đến ngày 26/12/2022: 64.208.219 đồng;
    • - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/12/2022 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 là: 476.712.329 đồng.

Tổng số tiền Công ty cổ phần K1Công ty cổ phần T3 phải thanh toán cho Hợp đồng là 3.540.920.548 đồng.

3. Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0028023 ngày 20/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty CP K1 phải chịu 102.818.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyễn Thị Hồng H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.000.000 đồng theo Biên lai BLTU/23 0009794 ngày 20/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hà Nội;
  • - TAND quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Liên Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 642/2024/DS-PT ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản

  • Số bản án: 642/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt mua bất động sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger