TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/DS-ST Ngày 30/9/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng cố đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giang Thành
Bà Lê Thị Vân Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: tham gia phiên tòa có bà Trần Phương Thuý – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cố đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123A/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Mã Lý N, sinh năm 1984 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 (vắng mặt)
Các đương sự cùng địa chỉ: Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Mã Lý N trình bày như sau:
Vào ngày 04/5/2018 ông Nguyễn Văn T có cố cho ông diện tích đất sản suất nông nghiệp với diện tích là 28.759m² do ông Nguyễn Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, cố với giá là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) thời hạn cố đất là một năm kể từ vụ hè thu năm 2018 đến cuối vụ đông xuân năm 2019 là hết hạn cố đất. Khi nào ông Nguyễn Văn T trả lại tiền cố đất cho ông đủ thì ông sẽ trả phần đất cố lại cho ông T. Ông không hay biết việc ông Nguyễn Văn T đã đem phần đất cố cho ông thế chấp tại Ngân hàng TMCP Q để vay tiền.
Đến nay toàn bộ diện tích đất ông nhận cố của ông Nguyễn Văn T đã bị Chi Cục thi hành án huyện Hòn Đất kê biên theo Quyết định số 19/QĐ-CCTHADS ngày 24/4/2023. Chi Cục thi hành án đã bán đấu giá tài sản xong, số tiền ông T phải thanh toán cho Ngân hàng ít hơn tổng giá trị tài sản của ông T đã bán đấu giá.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố “Tờ hợp đồng cố đất” ký ngày 04/5/2018 giữa ông Mã Lý N và ông Nguyễn Văn T vô hiệu. Yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải trả cho ông số tiền cố đất là 400.000.000 đồng.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T:
Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên ông Nguyễn Văn T vẫn không có mặt theo yêu cầu của Tòa án và cũng không có văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời khai của ông T tại Tòa.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử (HĐXX): Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị HĐXX chấp nhận; tuyên bố hợp đồng cố đất giữa ông N và ông T vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự” quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[3] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử (HĐXX) có cơ sở xác định rằng:
Vào năm 2018 ông Mã Lý N có nhận cố của ông Nguyễn Văn T một thửa đất sản xuất nông nghiệp diện tích 28.759m² đất tọa lạc tại ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Hai bên có lập Tờ hợp đồng cố đất ngày 04/5/2018, có xác nhận của ông Lý Văn L - Ban lãnh đạo ấp K. Theo nội dung Hợp đồng, ông Mã Lý N nhận cố phần đất trên với giá 400.000.000 đồng, thời hạn cố là 01 năm, hai bên tiến hành giao nhận đủ tiền và đất ngày 04/5/2018.
Xét thấy: Tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định các quyền của người sử dụng đất bao gồm Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Như vậy pháp luật không cho phép các đương sự thực hiện việc cố đất cho nhau. Do các bên xác lập hợp đồng cố đất trái với quy định của pháp luật đất đai nên hợp đồng cố đất không được chấp nhận. Do vậy, việc nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng cố đất ngày 04/5/2018 giữa ông Mã Lý N và ông Nguyễn Văn T vô hiệu là có căn cứ chấp nhận.
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Do đó các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015. Ông T có trách nhiệm trả cho ông N số tiền cố đất 400.000.000 đồng. Đối với phần diện tích đất cố 28.759m² toạ lạc tại ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 642345 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 17/01/2008 đứng tên ông Nguyễn Văn T, phần đất này đã bị Chi cục Thi hành án cưỡng chế kê biên và đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành bản án có hiệu lực của Toà án, ông Mã Lý N cũng đã giao đất cho Chi cục thi hành án nên HĐXX không xem xét giải quyết buộc ông N phải trả đất cho ông T.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có căn cứ nên chấp nhận.
Từ những phân tích trên, sau khi thảo luận nghị án HĐXX chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mã Lý N.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên do ông T là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng các Điều 122, 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 167 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mã Lý N.
Tuyên bố Hợp đồng cố đất được xác lập ngày 04/5/2018 giữa ông Nguyễn Văn T và ông Mã Lý N vô hiệu.
Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm hoàn trả cho ông Mã Lý N số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Mã Lý N được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp số tiền 10.300.000 đồng (Mười triệu, ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007178 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng khác:
Ông Nguyễn Văn T phải chịu chi phí thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại địa phương số tiền 4.000.000 đồng. Do ông Mã Lý N đã tạm nộp trước nên ông T phải hoàn trả cho ông Mã Lý N số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 142/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng cố đất
- Số bản án: 142/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cố đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng cố đất
