|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/DS-ST. Ngày: 16 - 8 - 2024. “V/v Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Vững.
Ông Nguyễn Văn Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Hoàng Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-DS ngày 08/4/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 94/2024/QĐST-DS ngày 25/4/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 14/5/2024, Thông báo dời ngày xét xử số 37/TB-TA ngày 13/6/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 190/2024/QĐST-DS ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lương Văn T, sinh năm 1957. (có mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Phạm Văn Ú, sinh năm 1959. (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Lương Văn T trình bày:
Vào năm 2007 ông Lương Văn T có tham gia làm cổ đông của Trạm bơm Đốc Binh K 3 do ông Phạm Văn Q làm trưởng trạm, có 13 thành viên. Đến tháng 02 năm 2011, trạm bơm làm ăn thua lỗ nên họp các thành viên thống nhất giải thể và quá giá Trạm bơm với số tiền 400.000.000 đồng. Ông Lương Văn T là người đứng ra mua lại Trạm bơm với giá là 400.000.000 đồng và ông T đã trả đủ tiền cho các cổ đông. Vậy từ tháng 02/2011 ông T là Trưởng Trạm bơm Đốc Binh K 3 hoạt động với tư cách cá nhân.
Trong các hộ dân sử dụng nước của Trạm bơm để sản xuất nông nghiệp có ông Phạm Văn Ú. Từ năm 2019 đến năm 2022 Trạm bơm có bơm nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho ông Phạm Văn Ú tổng cộng 8,5 mùa vụ (gồm vụ 3 năm 2019, 03 vụ năm 2020, 03 vụ năm 2021, vụ Đông Xuân năm 2022, nửa vụ 3 năm 2022) với diện tích 21.000m², giá bơm nước là 110.000đồng/1.000m²/vụ, tổng số tiền là 19.630.000 đồng, đã trả được 3.300.000 đồng, còn nợ lại 16.330.000 đồng. Đến nay ông Phạm Văn Ú vẫn không trả tiền bơm nước cho ông Lương Văn T làm cho ông Lương Văn T gặp nhiều khó khăn về tài chính.
Do đó, ông Lương Văn T làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn Ú trả cho ông Lương Văn T số tiền bơm nước còn nợ với số tiền là 16.330.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.780.000 đồng so với đơn khởi kiện tức là chỉ thu ông Ú với giá 100.000 đồng/1.000m²/vụ. Vậy số tiền của 8,5 vụ là 21.000m² x 100.000 đồng/1.000m²/vụ x 8,5 vụ = 17.850.000 đồng, ông Ú đã trả 3.300.000 đồng, còn nợ lại là 14.550.000 đồng (thu 100%), không yêu cầu tính lãi. Nếu bị đơn đồng ý trả thì ông T đồng ý bớt 20% của số tiền 14.550.000 đồng, tức ông chỉ thu 80% tức thành tiền là 11.640.000 đồng, nếu không thì ông T không đồng ý bớt.
Ngoài ra, ông T không còn tranh chấp hay yêu cầu gì khác.
* Tại Biên bản làm việc ngày 21/6/2024, ông Ú trình bày:
Về diện tích đất canh tác trong trạm bơm của ông T thì ông Ú có canh tác diện tích 21.000m². Về giá bơm nước lúc đầu là 100.000 đồng/1.000m²/vụ. Sau này tăng lên 110.000 đồng/1.000m²/vụ. Nhưng thực tế ông T chỉ thu ông với giá 100.000 đồng/1.000m²/vụ.
Đến vụ Hè Thu năm 2019 ông Ú lên vườn 9.000m² từ khi lên vườn thì 9.000m² này ông Ú chưa đóng tiền nước đến vụ Hè Thu năm 2022 là 8,5 vụ. Còn 12.000m² thì đến năm 2022 (vụ Hè T1) ông Ú lên vườn phần đất này. Do đó, phần 12.000m² đất vườn này thì ông Ú không có sử dụng nước của ông T, vì ông T không còn phục vụ nữa.
Nay, ông Ú chỉ đồng ý trả 50% số tiền bơm nước cho ông T, vì ông lên vườn thì sử dụng nước ít hơn trồng lúa và các Trạm bơm lân cận cũng chỉ thu 50% đối với các hộ lên vườn.
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất:
Ông Ú có canh tác diện tích 21.000m² trong trạm bơm của ông T. Về giá bơm nước là 100.000 đồng/1.000m²/vụ.
* Các tình tiết vụ án các bên đương sự không thống nhất: Nếu bị đơn đồng ý trả thì ông T đồng ý giảm bớt chỉ thu 80% của số tiền bơm nước còn nợ, ông Ú chỉ đồng ý trả 50%.
* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì. Bị đơn Phạm Văn Ú chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy, đề nghị của ông T là có một phần căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với số tiền 1.780.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn ông Lương Văn T yêu cầu bị đơn là ông Phạm Văn Ú trả tiền bơm nước còn nợ. Ngoài ra các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Điều 513 của Bộ luật Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân và do bị đơn có địa chỉ ở ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về xét xử vắng mặt:
Bị đơn Phạm Văn Ú vắng mặt tại các phiên tòa sơ thẩm không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Ú.
[1.4] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Xét thấy tại phiên tòa ông T tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 1.780.000 đồng trong tổng số tiền 16.330.000 đồng theo Đơn khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với số tiền 1.780.000 đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phạm Văn Ú phải có nghĩa vụ trả cho ông Lương Văn T số tiền bơm nước còn nợ là 14.550.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy có việc ông T dùng tài sản cá nhân để mua lại và giữ quyền Trưởng trạm bơm Đ từ tháng 02 năm 2011. Trạm bơm phục vụ tưới, tiêu nước trong sản xuất nông nghiệp cho các hộ dân ở khu vực ấp C, 4 xã Đ theo vụ mùa.
Theo ông Lương Văn T trình bày thì từ năm 2019 đến năm 2022 Trạm bơm có bơm nước phục vụ sản xuất nông nghiệp cho ông Phạm Văn Ú tổng cộng 8,5 mùa vụ (gồm vụ 3 năm 2019, 03 vụ năm 2020, 03 vụ năm 2021, vụ Đông Xuân năm 2022, nửa vụ 3 năm 2022) với diện tích 21.000m² x 100.000 đồng/1.000m²/vụ x 8,5 vụ = 17.850.000 đồng, ông Ú đã trả 3.300.000 đồng, còn nợ lại là 14.550.000 đồng.
Tại biên bản làm việc ngày 21/6/2024 thì bị đơn Phạm Văn Ú đã thừa nhận có sử dụng nước của Trạm bơm ông T và thống nhất với ông T về diện tích đất của ông là 21.000m², giá bơm nước là 100.000 đồng/1.000m²/vụ. Đây là tình tiết không cần phải chứng minh và được xem là chứng cứ theo quy định tại Điều 92 và Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Ú thừa nhận diện tích 9.000m² còn nợ 8,5 vụ, diện tích 12.000m² không có nợ, nhưng ông không có chứng cứ gì chứng minh và ông cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp, phiên hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm để bảo vệ cho quyền lợi của ông. Do đó, Hội đồng xét xử xác định ông Ú chưa đóng tiền công bơm nước cho ông T là 8,5 vụ trên diện tích 21.000m² là có thật.
Lý do phát sinh tranh chấp là do ông Ú không tiếp tục canh tác lúa mà đã lên vườn trồng cây ăn trái nên ông cho rằng ông sử dụng nước ít hơn trồng lúa và ông chỉ đồng ý trả 50% so với thu giá đất trồng lúa. Còn ông T thì đồng ý giảm bớt chỉ thu 80% của số tiền bơm nước còn nợ đối với ông Ú nếu ông Ú đồng ý trả, không thì ông không bớt.
Tuy nhiên, qua xác minh của Tòa án huyện T đối với các trạm bơm phục vụ tưới tiêu tương tự như ông T tại khu vực xã Đ, lân cận với trạm bơm của ông T thì giá thu tiền công bơm nước đối với đất vườn bằng 50% đến 60% của đất lúa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định mức thu đối với giá đất vườn bằng 60% của giá đất lúa là phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T: Buộc ông Phạm Văn Ú trả tiền công bơm nước còn nợ với số tiền là 14.550.000 đồng x 60% = 8.730.000 đồng (tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với số tiền 14.550.000 đồng - 8.730.000 đồng = 5.820.000 đồng (năm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
[3] Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo luật định.
Ông Lương Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm nên được miễn nộp.
[4] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 513, 518, 518, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 95, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T.
Buộc ông Phạm Văn Ú phải có nghĩa vụ trả cho ông Lương Văn T số tiền bơm nước còn nợ là 8.730.000 đồng (tám triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với số tiền 5.820.000 đồng (năm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với số tiền 1.780.000 đồng (một triệu bảy trăm tám mươi nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn Ú phải chịu 436.500 đồng (bốn trăm ba mươi sáu nghìn năm trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lương Văn T là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí dân sự sơ thẩm nên được miễn nộp.
5. Về quyền kháng cáo:
Ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Ú vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Tinh |
6
Bản án số 142/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 142/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
