|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22-4-2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Vân Anh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Khang; Bà Nguyễn Thị Xuân Hương
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Khánh Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý thụ lý số: 531/2023/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phan Hồng T, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, có mặt.
- - Bị đơn: Anh Chu Danh G, sinh năm: 1983; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S, Cục C, Bộ C1 (Đội 28, phân trại 1), địa chỉ: Xã C, huyện B, thành phố Hà Nội, xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phan Hồng T trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chu Danh G tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 12/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội.
- Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được thời gian ngắn, sau dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, ngoài ra anh G không chí thú làm ăn, ít quan tâm chăm sóc gia đình. Anh G làm dịch vụ cho thuê nhà nghỉ nhưng lại đặt camera để quay lén các cảnh quan hệ tình dục của những người vào nhà nghỉ sau đó tống tiền nên đã bị xét xử hình sự vào cuối năm 2021 và hiện đang chấp hành án về hành vi vi phạm pháp luật đó. Việc làm của anh G ảnh hưởng đến tương lai của các con, chị không thể chấp nhận và tha thứ cho anh G.
- Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị không còn tình cảm với anh G, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh G.
- - Về con chung: Chị và anh G có hai con chung là cháu Chu Danh Hải N, sinh ngày 10/10/2007 và cháu Chu Hiền T1, sinh ngày 04/4/2013, hai cháu đều có sức khoẻ về thể chất và tâm thần bình thường.
- Nay ly hôn, chị đề nghị Toà án giao cháu N và cháu T1 cho chị trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi hai con chung.
- - Về tài sản chung: Chị và anh G không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Chị và anh G không nợ ai, không cho ai vay nợ, không yêu cầu Toà án giải quyết, nếu sau khi ly hôn có phát sinh chị chịu trách nhiệm trước pháp luật.
* Tại Bản tự khai ngày 14/3/2024, anh Chu Danh G khai:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tình tự n đăng ký kết hôn ngày 12/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Anh đồng ý ly hôn với chị T với điều kiện chị T cho anh được nuôi con chung sau khi anh chấp hành xong hình phạt tù.
- - Về con chung: Anh chị có hai con chung là Chu Danh Hải N, sinh ngày 10/10/2007 và cháu Chu Hiền T1, sinh ngày 04/4/2013. Anh đề nghị được trực tiếp nuôi con sau khi chấp hành án xong.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Hiện anh đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S, không có điều kiện tham gia tố tụng tại Toà án, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm:
Về việc thực hiện tố tụng của Tòa án và các đương sự: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục của phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Hồng T
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị T được ly hôn anh G.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Chu Danh Hải N, sinh ngày 10/10/2007 và cháu Chu Hiền T1, sinh ngày 04/4/2013 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Ghi nhận chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Chu Danh G.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh G xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con chung”; Bị đơn cư trú tại thôn N, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Anh Chu Danh G xin vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh G theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phan Hồng T:
2.1 .Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phan Hồng T và anh Chu Danh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định của pháp luật theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, không giải quyết được. Năm 2021, anh G phải đi chấp hành án phạt tù giam do vi phạm pháp luật hình sự. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S.
Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh G không còn, mẫu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu được ly hôn anh G; anh G không trình bày về mâu thuẫn của vợ chồng nhưng đồng ý ly hôn với chị T với điều kiện chị T cho anh được nuôi con chung sau khi anh chấp hành xong hình phạt tù.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh G đã trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh G là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
2.2. Về con chung: Chị T và anh G xác nhận có hai con chung là cháu Chu Danh Hải N, sinh ngày 10/10/2007 và cháu Chu Hiền T1, sinh ngày 04/4/2013. Chị T đề nghị khi ly hôn chị trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu N và cháu T1, chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Anh G đề nghị sau khi anh chấp hành án phạt tù xong, chị T cho anh G được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung.
Xét thấy, hiện anh G đang chấp hành án phạt tù nên không có điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; hiện chị T đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con, đồng thời cháu N và cháu T1 đều có nguyện vọng được sinh sống cùng cùng chị T, do vậy giao cháu N và cháu T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
Chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được ghi nhận. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh G cho đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh G xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Chị Phan Hồng T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp quan điểm của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí và án phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Hồng T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Hồng T được ly hôn anh Chu Danh G.
- - Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Chu Danh Hải N, sinh ngày 10/10/2007 và cháu Chu Hiền T1, sinh ngày 04/4/2013 cho chị Phan Hồng T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến hai cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Ghi nhận chị T không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh G đến khi chị T có yêu cầu hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Anh G có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh G xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu BLTU/23 số 0005420 ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh G có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vương Thị Vân Anh |
Bản án số 142/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 142/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đinh
