Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẾ VÕ

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HSST Ngày: 17/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc - Giáo viên

Bà Nguyễn Thị Phú - Giáo viên nghỉ hưu

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Hoàng Văn H, sinh ngày 19/02/2006.

Địa chỉ: thôn Thuyền, xã Vân Nham, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đức và bà Trần Thị Tươi; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Có mặt.

2. Triệu Minh S, sinh năm 2005.

Địa chỉ: thôn Đồng Tâm, xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu Hồng Phi và bà Hoàng Thị Lượng; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 25/01/2021 bị Công an huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt hành chính B hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Xâm phạm sức khỏe của người khác”.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay. Có mặt.

3. Nông Thành D, sinh ngày 28/02/2007.

Địa chỉ: thôn Quyết Tâm, xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Nhàn và bà Đường Thị Thanh T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo D: Ông Nguyễn Văn Hải - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Bà Đường Thị Thanh T, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn Quyết Tâm, xã Minh Tiến, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (là mẹ của bị cáo D). Có mặt.

- Bị hại: Anh Triệu Văn B, sinh năm 1997; Địa chỉ: thôn Cốc Pàng, xã Cốc Pàng, huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao B. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn H, Nông Thành D và Triệu Minh S là bạn quen biết với nhau từ trước và đang thuê trọ tại thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 17 giờ ngày 17/3/2024, H đi xe máy điện từ phòng trọ của H sang phòng trọ của D chơi và rủ D trộm cắp xe mô tô, D đồng ý. Sau đó, H đi xe máy điện của H sang phòng trọ của Hoàng Văn Quân (cùng quê với H) để gửi rồi quay lại phòng trọ của D. Tại đây, H và D sử dụng điện thoại Iphone 5S của H học cách thức đấu điện để mở khóa điện của xe mô tô và chuẩn bị sẵn một đoạn dây đồng dài khoảng 4 - 5 cm được cắt từ dây sạc điện thoại (chuẩn bị cho việc trộm cắp). Đến khoảng 03 giờ ngày 18/3/2024, H gọi D dậy để đi trộm cắp tài sản, D đi lên phòng trọ tầng 4 gọi S dậy. Khi gặp S, D hỏi: “Anh có về không”, S nói “có” và hỏi D: “Về thế nào” thì D nói: “Lấy xe về”. Khi nghe D nói thế, S biết ý của D là trộm cắp xe để về nên cũng đồng ý và không nói gì, đồng thời đi xuống phòng trọ sắp xếp quần áo vào ba lô để chuẩn bị về. Tại phòng, D nói: Để em che camera để các anh lấy xe. Sau đó, S cầm ba lô ra mở khóa cổng (khóa B vân tay) đi ra ngoài cách cổng khoảng 50 đến 60m cảnh giới, còn D sử dụng dép che mắt camera lại để H lấy trộm xe Honda Wave màu đen BKS 11L1-192.27 của anh Triệu Văn B trong khu vực nhà để xe. Vài phút sau, H dắt xe mô tô Honda Wave màu đen BKS 11L1-192.27, D đẩy phía sau đến chỗ S. Thấy vậy, S cùng H và D đẩy xe vào khu vực nhà hoang cách nhà trọ khoảng 100m. Tại đây, H mở đèn của điện thoại Iphone 5S màu vàng rồi đưa cho S cầm soi đèn để cho H tháo mặt nạ nhựa của xe vừa trộm cắp được đấu điện. Tiếp đó, D bảo S để D soi đèn. Lúc này, H đấu điện mãi không được nên D đã đưa đèn cho S soi để D đấu điện xe thì thấy đèn S, H nổ máy điều kH xe mô tô trộm cắp được chở S và D đi về hướng Lạng Sơn. Khi qua thị trấn Kép, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang thì cả ba thuê nhà nghỉ để S ngủ, còn H và D điều kH xe vừa trộm cắp được về nhà H cất, đồng thời H lấy xe mô tô Wave màu đỏ của gia đình quay lại nhà nghỉ đón S. Đến 14 giờ cùng ngày, H đưa cho S số tiền 100.000 đồng để S tự bắt xe về nhà, còn Hiền và D cùng nhau đi xe về Lạng Sơn. Sau đó, H sử dụng xe mô tô trộm cắp trên từ đó đến khi bị phát hiện. Tại cơ quan điều tra H giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng, và 01 xe mô tô Honda Wave màu đen BKS 11L1-192.27.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐGTS ngày 17/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Quế Võ kết luận: “Xe mô tô Honda Wave màu sơn đen BKS 11L1-192.27 tại thời điểm tháng 3/2024 có giá trị là 13.000.000 đồng”.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 92/CT-VKSQV ngày 24/6/2024 của VKSND thị xã Quế Võ đã truy tố Hoàng Văn H, Triệu Minh S, Nông Thành D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu.

Anh B không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị HĐXX tuyên bố Hoàng Văn H, Triệu Minh S, Nông Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng Văn H từ 8-12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Triệu Minh S từ 7-10 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nông Thành D từ 3-5 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  • - Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng thu của H.
  • - Về án phí: H, S, D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo D trình bày: Nhất trí với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện VKSND thị xã Quế Võ đề nghị áp dụng đối với D. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo D phạm tội mang tính chất bột phát, phạm tội lần đầu khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên cho bị cáo D được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện VKSND thị xã Quế Võ đề nghị.

Các bị cáo và người đại diện của bị cáo D không tranh luận gì với đại diện VKSND thị xã Quế Võ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Anh Triệu Văn B đề nghị xét xử vắng mặt, nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Khoảng 03 giờ ngày 18/3/2024, tại khu phố Phương Cầu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Hoàng Văn H, Nông Thành D và Triệu Minh S đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave màu sơn đen BKS 11L1-192.27 trị giá 13.000.000 đồng của anh Triệu Văn B. Do đó, hành vi của H, D, S đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng đã truy tố.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

H, S, D phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. H tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

H có hành vi xúi giục D là người dưới 18 tuổi phạm tội, nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Vụ án có tính chất đồng phạm, trong đó H là đối tượng có vai trò chính đã khởi xướng việc phạm tội, còn S và D có vai trò giúp sức cho H. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, bản thân H, S, D là những đối tượng lười lao động nhưng lại muốn được hưởng thụ, nên đã lao vào con đường phạm tội. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng với vai trò của mỗi bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, đối với bị cáo D phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, do đó chỉ cần áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, và B với thời gian đã tạm giữ, tạm giam cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do H, S, D là đối tượng không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng thu của H là công cụ dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với đoạn dây đồng các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, sau khi đấu điện được các bị cáo đã vứt đi đến nay không nhớ vứt ở đâu, và không thu hồi được.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu sơn đen BKS 11L1-192.27 là tài sản hợp pháp của anh B, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ đã trả lại cho anh B là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh B đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: H, S, D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Hoàng Văn H, Triệu Minh S, Nông Thành D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xử phạt Hoàng Văn H 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xử phạt Triệu Minh S 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xử phạt Nông Thành D 03 (ba) tháng 01 (một) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.

Quyết định tạm giam H, S mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm việc thi hành án.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo D.

* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5S màu vàng thu của H.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: H, S, D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa và người đại diện của bị cáo D, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thị xã Quế Võ;
  • - Công an thị xã Quế Võ;
  • - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Lưu HS, VT;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Minh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 142/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger