|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày: 16/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa
2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Như Điểm – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1987 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không đăng ký; Chỗ ở: Ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Võ Thị H, sinh năm 1931; Có chồng là Trần Văn T (đã ly hôn); C sống không đăng ký kết hôn với Lê Minh M1 (có 01 con chung sinh năm 2005) và Lý T1 (có 02 con chung sinh năm 2017, 2022).
Tiền án: Năm 2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng về tội Đánh bạc theo Bản án số 119/2023/HS-PT ngày 08/12/2023.
Tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 26/6/2024 chuyển tạm giam (có mặt).
2. Đinh Tuấn A, sinh năm 1995 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Tấn H1, sinh năm 1966 và bà Đàm Thị M2, sinh năm 1966; Có vợ là Hoàng Thị Thu T2, sinh năm 1989; Có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 58/2016/HSST ngày 06/7/2016,
Bị tạm giữ từ ngày 17/6/2024 đến ngày 26/6/2024 chuyển tạm giam (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 17/6/2024, tại tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường L, thành phố B bắt quả tang Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A đang cất giấu trái phép 01 (một) gói nylon dạng túi zíp bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt do M cầm trên tay phải.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói nilon dạng túi zíp bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt.
- 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh.
- 01 (một) Điện thoại di động có chữ Realme, màu xám, Số IMEI 1: 863562062307298, số IMEI 2: 863562062307280
- 01 (một) xe mô tô hai bánh, biển số 72K1-167.06; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS, số máy: 5C64-1070041, số khung: RLCS5C641 DY070021.
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A khai nhận:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/6/2024, A và M rủ nhau mua ma tuý để sử dụng. Anh dùng điện thoại của M liên lạc với một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) ở thành phố B hỏi mua ma túy đá. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Anh điều khiển xe mô tô biển số 72K1-167.06 chở M đến khu vực V, tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B gặp một thanh niên không rõ nhân thân lai lịch, M đưa 1.800.000 đồng cho thanh niên đó để mua ma túy thì người này chỉ chỗ cất ma túy ở hộp tủ điện trước cửa Võ T. Anh đi đến vị trí tủ điện lấy gói nylon dạng túi zíp bên trong có chứa ma túy đưa cho M rồi điều khiển xe chở M đi về. Khi cả hai đi đến khu vực thuộc tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B thì bị Công an phường L bắt quả tang. Cả hai thừa nhận mục đích mua ma tuý để sử dụng và không có mục đích gì khác.
Kết quả xét nghiệm, A và M đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của M và Tuấn A, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.
Tại Kết luận giám định số 396/KL-KTHS-MT ngày 21/6/2024 của Phòng K, Công an tỉnh B-VT kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu trong suốt (mẫu A) có khối lượng 1,3129 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 294/KL-KTHS-SKSM ngày 16/9/2024 của Phòng PC09 Công an tỉnh B xác định: Phương tiện cần giám định: Số khung nguyên thủy xác định được là RLCS5C641DY070021, số máy hiện tại là số nguyên thủy 5C641070041.
* Vật chứng hiện đang tạm giữ, xử lý vật chứng:
- 01 gói ma túy hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì ghi vụ số 396 ngày 25/6/2024 đóng dấu Phòng K, Công an tỉnh B-VT.
- 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh.
- 01 (một) Điện thoại di động có chữ Realme, màu xám, Số IMEI 1: 863562062307298, số IMEI 2: 863562062307280
- 01 (một) xe mô tô hai bánh, biển số 72K1-167.06; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS, số máy: 5C64-1070041, số khung: RLCS5C641 DY070021.
Qua xác minh, xe trên do bà Đàm Thị M2, sinh năm 1966, địa chỉ: ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên chủ sở hữu. Bà M2 mua chiếc xe vào năm 2013 để sử dụng. Ngày 17/6/2024, con trai bà là Đinh Tuấn A tự ý lấy xe để đi mua ma túy cùng M thì bị thu giữ. Bà M2 không biết sự việc trên. Ngày 13/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả xe lại cho bà M2.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
Bản cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 26/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo, xác định Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M mức án từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Tuấn A mức án từ 20 (hai mươi) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy phong bì chứa gói ma túy là tang vật của vụ án; tịch thu tiêu hủy 01 khẩu trang y tế màu xanh, đã cũ do không còn giá trị sử dụng và tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại di động Realme, màu xám do liên quan đến hành vi phạm tội.
- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với tội danh, khung hình phạt và đề nghị của Viện kiểm sát; thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại tổ E, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A bị bắt quả tang có hành vi tàng trữ 01 (một) gói ma túy có khối lượng qua giám định là 1,3129 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.
Thời điểm phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc ban đầu, biên bản khám xét, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[3] Xét vai trò của các bị cáo: Các bị cáo cùng thống nhất ý chí và cùng nhau mua ma túy mục đích sử dụng nên được xác định là đồng phạm mang tính chất giản đơn, vai trò ngang nhau.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm các quy định về chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương, tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo M đang có 01 tiền án, bị cáo Tuấn A có nhân thân xấu nhưng không lấy đó là bài học, tu dưỡng đạo đức mà tiếp tục phạm tội, Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đinh Tuấn A không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị M bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì ghi vụ số 396 ngày 25/6/2024 dùng chứa tang vật của vụ án, 01 (một) khẩu trang y tế, màu xanh.
- Tịch thu xung quỹ 01 (một) điện thoại hiệu Realme, màu xám, số Imei 863562062307298 đã thu giữ do liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh, biển số 72K1-167.06; Nhãn hiệu: YAMAHA; Số loại: SIRIUS, số máy: 5C64-1070041, số khung: RLCS5C641 DY070021 Đinh Tuấn A chở Nguyễn Thị M đi mua ma túy; Qua xác minh, xe trên do bà Đàm Thị M2 ((là mẹ của Tuấn A) đứng tên chủ sở hữu. Bà M2 mua chiếc xe vào năm 2013 để sử dụng. Ngày 17/6/2024, Đinh Tuấn A tự ý lấy xe để đi mua ma túy cùng M thì bị thu giữ. Bà M2 không biết sự việc trên. Ngày 13/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả xe lại cho bà M2 là đúng theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị M, Đinh Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị M 20 (hai mươi) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 07 (bảy) tháng tù của Bản án số 119/2023/HS-PT ngày 08/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Đinh Tuấn A 18 (mười tám) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong 396 ngày 25/6/2024, có dấu của Phòng K, Công an tỉnh Bà R - Vũng Tàu.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) khẩu trang y tế, màu xanh.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại hiệu Realme, màu xám, số Imei 863562062307298
(Thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 141 ngày 27/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Nguyễn Thị M và Đinh Tuấn A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (16/10/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thanh Tâm |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cùng nhau mua ma túy về sử dụng và trên đường bị bắt quả tang
