|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày 15 - 7 -2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hồng
- Bà Nguyễn Thị Thủy
- - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh - Kiểm sát viên
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 127/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1994. Tên gọi khác: Không
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 9/12; Bố: không xác định; Con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961. Vợ: không; Con: không. Bị cáo là con duy nhất.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 211/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 01(một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023, chưa được xoá án tích.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 55/HSST ngày 24/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã được xoá án tích.
Bản án số 40/HSST ngày 26/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/HSST ngày 24/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh buộc Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 năm tù. Đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.
Ngày 01/12/2017 bị Công an phường D, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2018/HSST ngày 06/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.
Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HSST ngày 25/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 13 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Công ty cổ phần X
Địa chỉ: Số B, L, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: ông Đào Văn H1 - sinh năm: 1987
Địa chỉ: Số F Hương lộ B, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 - sinh năm: 1967
Địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên
(Vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Doãn Văn C, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Số nhà F, ngõ B, C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích. Rạng sáng ngày 01/5/2024, H điều khiển xe mô tô biển số 98Y4-1037 đi từ nhà đến khu đô thị P, phường D, thành phố B mục đích trộm cắp tài sản tại các công trình xây dựng. H phát hiện trong sân của công trình xây dựng nhà biệt thự B2.12 tại khu đô thị P có để nhiều thanh giằng giáo và giàn giáo nên nảy sinh ý định trộm cắp. Những tài sản này là của Công ty cổ phần X, địa chỉ số 299/2/25, L, phường A, Quận A, TP Hồ Chí Minh đang thi công xây dựng. Quan sát thấy không có ai trông coi tài sản, H đi xe máy vào trong sân đến vị trí để các thanh giàn giáo rồi xuống xe. H lấy tổng số 07 thanh kim loại (gồm 05 chân giàn giáo và 02 thanh giằng giáo) để lên xe mô tô rồi dùng dây dù buộc các thanh kim loại vào nhau. Sau đó, H ngồi lên xe chở các thanh kim loại trên đem đi cất giấu tại chân cầu vượt siêu thị G để đến sáng sẽ mang đi bán. Khi H điều khiển xe máy chở các thanh sắt trên đi đến đầu đường H thì bị anh Doãn Văn C, sinh năm 1990, trú tại số nhà F, ngõ B, C, phường L, thành phố B là nhân viên bảo vệ của công ty B được phân công bảo vệ tại các công trình xây dựng phát hiện nên đuổi theo và giữ lại. H thừa nhận với anh C đã trộm cắp những thanh giằng giáo, giàn giáo. Anh C đã yêu cầu H chở tài sản quay lại địa điểm đã trộm cắp các thanh sắt thì H cùng anh C quay lại công trình xây dựng nhà biệt thự B2.12. Khi đến nơi thì H bỏ chạy và để lại chiếc xe mô tô biển số 98Y4-1037 tại hiện trường. Ngày 03/5/2024, Nguyễn Văn H đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.
Kết luận định giá tài sản số 90/KL-HĐ ngày 08/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
- “- 04 chân giàn giáo HT có kích thước như nhau, bằng kim loại hình chữ U được hàn bởi các thanh kim loại có đường kính 4,5cm, chiều dài 160cm, chiều rộng 120cm, có trọng lượng 9kg/01 chân, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 01/5/2024 là 9.000 đồng/1kg x 36 kg = 324.000 đồng.
- - 01 chân giàn giáo HT bằng kim loại hình chữ U được hàn bởi các thanh kim loại có đường kính 4,5cm, chiều dài 181cm, chiều rộng 120cm, có trọng lượng 10kg, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 01/5/2024 là 9.000 đồng/1kg x 10 kg = 90.000 đồng.
- - 02 thanh giằng giáo HT có kích thước như nhau, bằng kim loại, có chiều dài 200cm/thanh, có trọng lượng 3kg/01 thanh, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 01/5/2024 là 9.000 đồng/1kg x 6 kg = 54.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 468.000 đồng.”
Bản cáo trạng số 131/CT-VKS ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong phần luận tội đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các chứng cứ đã thu thập được và xác định đủ căn cứ chứng minh bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 điều 173 của bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX):
- + Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày 03/5/2024.
- + Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
- + Về trách nhiệm dân sự: không
- + Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 98Y4-1037 của Nguyễn Văn H.
- + Về án phí: Căn cứ điều 136; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai. Bị cáo không tranh luận gì, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì. Hội đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa vắng mặt đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng trên đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đầy đủ. Quá trình xét xử, Tòa án đã triệu tập hợp lệ, tại phiên tòa kiểm sát viên, bị cáo đề nghị HĐXX tiếp tục phiên tòa, HĐXX căn cứ điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử.
[3]. Về hành vi của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi các chứng cứ khác như kết quả thực nghiệm điều tra, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ được. Có cơ sở xác định: Khoảng 2 giờ sáng ngày 01/5/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số 98Y4 – 1037 đi đến công trình xây dựng biệt thự B2.12 khu đô thị P, phường D, thành phố B thực hiện hành vi lấy 05 chân giàn giáo bằng kim loại, 02 thanh giằng giáo bằng kim loại, sau đó dùng xe mô tô chở các thanh kim loại trên đi cất giấu, trên đường đi thì bị phát hiện. Trị giá tài sản bị cáo trộm cắp được định giá 468.000 đồng (bốn trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Mặc dù số tiền trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng do bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nên hành vi của bị cáo thực hiện lần này đã đủ căn cứ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về hành vi trộm cắp tài sản, có bản án chưa được xóa án tích, được xác định là căn cứ định tội. Bị cáo không có tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải và đã đầu thú nên được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của BLHS.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù giam, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Do bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đã bị Tòa án xử phạt tù giam tại các bản án trước, nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi, nay tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, do vậy, HĐXX quyết định áp dụng mức hình phạt bằng mức cao nhất kiểm sát viên đã đề xuất tại phiên tòa mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
HĐXX xét thấy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm vụ lợi, tuy nhiên, do bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản, do đó HĐXX miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Do đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét.
[7]. Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 98Y4-1037, số máy 5C63308676, số khung RLCS5C630AY308618 đăng ký tên chủ xe Nguyễn Văn T2. Quá trình điều tra, anh T2 xác nhận đã bán cho anh Hà T3 Dũng 0- là người cùng thôn với bị cáo H, anh D xác nhận đã bán cho bị cáo H với giá 5.000.000 đồng. Nay xác định xe trên bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản nên HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung Ngân sách nhà nước xe mô tô trên.
[8]. Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
HĐXX quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án và áp dụng các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38; Điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a khoản 2 điều 106; điều 135, điều 136; điều 292; điều 293; điều 331, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/5/2024.
[2]. Về vật chứng:
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 98Y4-1037, số máy 5C63308676, số khung RLCS5C630AY308618 của Nguyễn Văn H.
[3]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H có tiền án, đã có hành vi trộm cắp các thanh vật liệu xây dựng, bị bắt quả tang và bị xử phạt 01 năm tù về tội trên
