|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN -------------------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ------------------------- |
Bản án số: 142/2024/HSST
Ngày: 12/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Các hội thẩm nhân dân: - Bà Lưu Thị Thôi
- Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim A – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST- HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HS ngày 28/6/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm 2004 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: khu phố G, phường Đ, TP ., Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: làm thuê; Con ông Phạm Văn H1 (chết) và bà Huỳnh Thị Bé T, sinh năm 1969; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người bị hại: (vắng mặt)
Bà Nguyễn Thị Thanh T1 – sinh năm 1995
Trú tại: Khu phố F, phường P, Tp ., tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/11/2023, Phạm Văn H đi bộ từ nhà đến ngôi nhà hoang thuộc khu phố D, phường Đ, TP ., tỉnh Bình Thuận để chơi. Tại đây, H phát hiện nhà của chị Nguyễn Thị Thanh T1 gần đó có người đi ra nhưng không khóa cổng nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. H đột nhập vào trong nhà, tìm kiếm tại tầng trệt nhưng không có tài sản gì giá trị. H đi lên tầng 1 thấy chị T1 đang nằm ngủ trên võng, trên nền nhà có 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại IPhone Xs max và 01 điện thoại TCL đang sạc pin. H rút dây sạc điện thoại và lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên rồi đi đến khu vực nhà hoang cất giấu dưới khe gạch. Khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, chị T1 thức dậy phát hiện bị mất điện thoại nên đến Công an phường Đ trình báo sự việc. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường Đ đến căn nhà hoang kiểm tra và đưa H về trụ sở làm việc.
Quá trình điều tra, H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nêu trên.
Vật chứng của vụ án: thu giữ từ Phạm Văn H:
- 01 điện thoại di động IPhone Xs max, màu đen, IMEI1: 357307090925718, IMEI2: 357307091276335, số máy MT6Q2J/A, số seri F2LXG1YZKPHN, mặt sau máy bị nứt vỡ, phía bên dưới có dòng chữ Iphone, điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chi tiết bên trong.
- 01 điện thoại TCL 20xe, màu đen – xám, IMEI: 010633000159205, số seri: OFIZ9DR4NFIVMBAA, mặt trước máy bị nứt vỡ, mặt sau máy phía bên dưới có dòng chữ TCL, điện thoại đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chi tiết máy bên trong.
Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 19/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự U: Điện thoại di động hiệu Iphone XS max, màu đen, mặt sau bị nứt vỡ, tình trạng hoạt động bình thường trị giá 3.000.000 đồng. Điện thoại di động hiệu TCL, màu đen, bị nứt vỡ màn hình trước, tình trạng hoạt động bình thường trị giá 300.000 đồng. Tổng cộng tài sản trị giá 3.300.000 đồng.
Về dân sự:
Cơ quan CSĐT Công an T2 đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh T1 02 điện thoại di động trên, chị T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu H bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 01 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12-18 tháng.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/11/2023 tại nhà của chị Nguyễn Thị Thanh T1 thuộc khu phố D, phường Đ, Tp ., tỉnh Bình Thuận, Phạm Văn H đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone XS max và 01 điện thoại di động TCL trị giá 3.300.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thanh T1
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là một thanh niên khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo ý thức được tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, thế nhưng, bị cáo không tự lao động để tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, mà do muốn nhanh chóng có thu nhập mà không phải lao động nặng nhọc nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu vật chất cá nhân, bất chấp pháp luật.
Hành vi của bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành thành khẩn khai báo. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản đã được trả lại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4] Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo, xét thấy: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương. Xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tốt nên không cần thiết phải bắt giam bị cáo mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục cũng đã đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về phần bồi thường dân sự: Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện tại đơn xin xét xử vắng mặt là đã nhận lại được tài sản bị bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Quyền kháng cáo bản án của người bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhân:
|
TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Tòa Nguyễn Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 142/2024/HSST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 142/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp
