Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 142/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phước .

Ông Huỳnh Phước .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kiều L, sinh ngày: 01/01/1978 tại An Giang. Nơi cư trú: số B, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Đại học (tại phiên tòa bị cáo trình bày trình độ học vấn 12/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con: Ông Nguyễn Văn P và bà Đoàn Kim T; chồng tên Trần Minh H (đã ly hôn); con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/12/2023 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Công ty cổ phần D tại Sóc Trăng; địa chỉ: số B Khu N thương mại T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1985. Địa chỉ: số A, ấp T, đường T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy ủy quyền ngày 20/11/2023 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01 tháng 01 năm 2021, Công ty cổ phần D tại Sóc Trăng có ký hợp đồng Cộng tác viên với Nguyễn Thị Kiều L nhiệm vụ là thu tiền cước thuê bao của khách hàng tại khu vực thị trấn M, huyện M và một số tuyến đường thuộc phường B, phường C và phường A, thành phố S với số lượng khoảng 1.000 khách hàng. Khi bắt đầu làm việc, L được Công ty cấp cho 01 (một) điện thoại di động có cài sẵn app nội bộ tên iCab có lưu trữ thông tin khách hàng, số tiền khách hàng đóng cho nhân viên thu cước và thực hiện thao tác thanh toán cước phí sử dụng thông qua app. Trong quá trình làm việc, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cần tiền tiêu sài cá nhân nên L đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của công ty.

Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 01 năm 2023, L đặt mua phiếu thu bên ngoài và con dấu hình chữ nhật mua trên Facebook có thông tin trên con dấu giống với con dấu của Công ty. Để thu được tiền của khách hàng, L tự đưa ra chương trình khuyến mãi khi khách hàng mua gói dịch vụ 06 tháng sẽ được tặng thêm 02 tháng, mua gói 01 năm sẽ được tặng thêm từ 03-04 tháng, chương trình L tự đưa ra là sai với quy định của Công ty (khách hàng đóng tiền 06 tháng chỉ được tặng 01 tháng và 12 tháng chỉ được tặng 02 tháng). Với cách thức như trên L đã thu được tiền của 347 khách hàng với tổng số tiền là 278.802.600 đồng và không nộp về cho Công ty. Để che giấu hành vi của bản thân, L dùng phần mềm iCab để thanh toán gạch nợ cho khách hàng theo hình thức tháng và L đã thanh toán được cho Công ty với số tiền là 130.045.200 đồng còn lại số tiền là 148.755.600 đồng L đã tiêu xài cá nhân hết. Đến tháng 02 năm 2023 L không còn khả năng đăng nhập vào phần mềm iCab để thanh toán gạch nợ cho khách hàng nên Công ty phát hiện hành vi chiếm đoạt của L. Đối với số tiền của những tháng khuyến mãi mà L tự đưa ra chương trình khuyến mãi và thu thấp hơn giá cước Công ty quy định với số tiền là 2.014.600 đồng, gây thiệt hại cho Công ty vì Công ty đã cung cấp đầy đủ dịch vụ cho khách hàng là 65.239.400 đồng. Cho nên L đã chiếm đoạt của Công ty với tổng số tiền là 216.009.600 đồng.

Cụ thể như sau:

  • Năm 2021: (từ tháng 09 đến tháng 12 năm 2021) L chiếm đoạt: 2.352.000 đồng, của gói cước 6 tháng và 12 tháng.
  • Năm 2022: (từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2022) L chiếm đoạt: 133.051.800 đồng, của gói cước tháng, 6 tháng và 12 tháng.
  • Năm 2023: (từ tháng 01 đến tháng 02 năm 2023) L chiếm đoạt: 13.351.800 đồng, của gói cước tháng 6 tháng và 12 tháng.

Về vật chứng: Không có, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không tạm giữ.

Tại Bản cáo trạng số 137/CT-VKS-TPST ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kiều L về tội

“Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kiều L và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kiều L phạm tội “tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Trước khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị Kiều L có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả xong cho Công ty cổ phần D và Công ty có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Công ty cổ phần D tại Sóc Trăng, đại diện là ông Phạm Văn M yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Kiều L bồi thường tổng số tiền là 216.009.600 đồng và bị cáo đã khắc phục thiệt hại xong.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra không tạm giữ.

Về án phí, buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Thị Kiều L thừa nhận hành vi phạm tội, trình bày tranh luận bào chữa đề nghị xem xét mức hình mức thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp cho bị hại là ông Phạm Văn M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, sự vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự vẫn xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Kiều L thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, cụ thể, bị cáo Nguyễn Thị Kiều L là

nhân viên hợp đồng lao động theo dạng cộng tác viên của Công ty cổ phần D (gọi tắt Công ty D), chi nhánh S có nhiệm vụ là thu tiền cước thuê bao của khách hàng tại khu vực thị trấn M, huyện M và một số tuyến đường thuộc Phường B, Phường C và Phường A thành phố S. Từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 02 năm 2023, L nhiều lần thu tiền cước thuê bao và gạch công nợ của khách hàng cho Công ty D nhưng về không giao nộp đủ lại cho Công ty và lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt của Công ty D với tổng số tiền là 216.009.600 đồng.

[4] Xét thấy, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện từ tháng 9 năm 2021 đến tháng 02 năm 2023, bị cáo L nhiều lần thu tiền cước thuê bao và gạch công nợ của khách hàng cho Công ty D nhưng về không giao nộp đủ cho Công ty và lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt của Công ty D với tổng số tiền 216.009.600 đồng nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kiều L đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự (điểm c, d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự quy định: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000). Từ đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, bị cáo Nguyễn Thị Kiều L có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả xong cho Công ty cổ phần D và Công ty X giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, xử phạt bị cáo hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Công ty cổ phần D tại Sóc Trăng, đại diện là ông Phạm Văn M yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Kiều L bồi thường tổng

số tiền là 216.009.600 đồng và bị cáo đã khắc phục thiệt hại xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[10] Về án phí: Bị cáo người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội, đề nghị các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét mức thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khoản 2 Điều 136; Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều L, phạm tội “Tham ô tài sản”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 25/12/2023.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã khắc phục thiệt hại xong, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kiều L phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1); Bị hại (1);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tham ô tài sản

  • Số bản án: 142/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger