|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST
Ngày: 10/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên
Bà Nguyễn Thị Phương
Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với các Bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Hồng Đ; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: N; Sinh năm: 1993 tại Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Thôn Y, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Xôm, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Con ông: Nguyễn Công Đ1 – Sinh năm 1968 và con bà: Phạm Thị H – Sinh năm 1970; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 Tiền án, ngày 22/5/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 07 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 59/2012/HSST; Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt hành chính, Ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 59/2012/HSST, ngày 02/4/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về đia phương, bản án đã được xóa án tích.
2. Họ và tên: Đào Thanh V; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: N; Sinh năm: 1994 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn P, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông: Đào Xuân H1 – Sinh năm 1968 và con bà: Trần Thị N1 – Sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: 01 tiền sự, Ngày 04/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện
1
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng, ngày 05/5/2022 chấp hành xong; Tiền án: Không; Nhân thân: Chưa bị Tòa án nào xét xử.
Các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/01/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
* Người có nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Xuân C, sinh năm 1980, nơi cư trú: Bản Ten B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt không lý do)
- Bà Bạc Thị T, sinh năm 1963, nơi cư trú: Bản Xôm, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 27/01/2024, Phạm Hồng Đ đang ở nhà tại bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nhà Đ thuê của bà Bạc Thị T), thì có Đào Thanh V đến đứng ngoài cửa hỏi mua 300.000 đồng tiền Heroine và 220.000 đồng Hồng phiến mục đích để sử dụng. Đ đồng ý nhận 520.000 đồng của V qua lỗ khe cửa nhà rồi cất vào túi quần bên phải đang mặc, sau đó Đ lấy 24 viên Methamphetamine cùng các cục, bột Methamphetamine cho vào túi nilon màu hồng và 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng đưa cho V qua khe cửa. Mua xong, V cầm số ma túy đi về. Trên đường về, V nhặt một chiếc khẩu trang gói bên ngoài số ma túy và dùng băng dính màu đen cuốn bên ngoài rồi cầm gói ma túy ở tay phải đi bộ về nhà. Hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang đi bộ ở thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay phải của V đang cầm 01 gói băng dính màu đen, tiếp theo là lớp khẩu trang màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu hồng chứa 24 viên nén màu hồng và các cục bột màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 2,5 gam, ngoài ra còn có 01 gói nilon màu trắng bên trong có các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,35 gam. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 2,85 gam. Đào Thanh V khai với cơ quan điều tra số ma túy trên mua của Phạm Hồng Đ.
Hồi 11 giờ ngày 28/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Phạm Hồng Đ tại bản Xôm, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Qua khám xét thu giữ tại tay trái của Đ đang cầm 01 túi nilon màu hồng, bên trong chứa 18 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 1,51 gam, thu giữ tại túi quần bên trái của Đ đang mặc 520.000 đồng là tiền bán ma túy cho V mà có.
Phạm Hồng Đ khai nhận số ma túy bán cho V và bị thu giữ có nguồn gốc như sau: Khoảng 18 giờ ngày 26/01/2024 khi Đ đang ở nhà thuê tại bản Xôm, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì có Đặng Xuân C, sinh năm 1980, nơi cư trú: Bản
2
Ten, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến đưa cho Đ 01 túi Methamphetamine và nói: Đ bán hết thì đưa cho C 2.000.000 đồng, lời lãi thì Đ hưởng. Đến khoảng 20 giờ ngày 27/01/2024 C tiếp tục đến và đưa cho Đ 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng và nói với Đ bán hết thì đưa cho C 1.300.000 đồng, lời lãi thì Đ hưởng. Sau đó Đ đã nhiều lần lấy Methamphetamine và H3 ra để sử dụng và đã bán cho Đào Thanh V 01 lần, số ma túy còn lại bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thu giữ qua khám xét khẩn cấp.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 28/01/2024 đã xác định như sau:
- - Vật chứng thu giữ của Đào Thanh V: 24 viên nén màu hồng và các cục bột màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 2,5 gam gửi toàn bộ giám định ký hiệu M1; Các cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,35 gam gửi toàn bộ giám định ký hiệu M2.
- - Vật chứng thu giữ của Phạm Hồng Đ: 18 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có khối lượng 1,51 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số 356/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Đào Thanh V có khối lượng 0,35 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine; 2,5 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ của Phạm Hồng Đ có khối lượng 1,51 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Tại bản kết luận giám định số 388/KL-KTHS ngày 04/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng); 01 tiền mệnh giá 100.000 đ (Một trăm nghìn đồng); 06 tờ tiền mệnh giá 20.000 đ (Hai mươi nghìn đồng); 10 tờ tiền mệnh giá 10.000 đ (Mười nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKSHĐB ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Phạm Hồng Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Đào Thanh V về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
3
Áp dụng: khoản 1 Điều 251/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS; Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Đ từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, Điều 38/BLHS.
Xử phạt bị cáo Đào Thanh V: 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 3,77 gam Methamphetamine và 0,3 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án; 02 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 băng dính màu đen, 01 khẩu trang màu trắng.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 520.000 đồng của bị cáo Phạm Hồng Đ là tiền do phạm tội mà có.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như trong Cáo trạng đã truy tố. Các Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Phạm Hồng Đ và Đào Thanh V xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hồng Đ và Đào Thanh V khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với các Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định:
4
Hồi 21 giờ ngày 27/01/2024, tại nhà thuê của mình thuộc bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Phạm Hồng Đ đã bán trái phép 0,35 gam Heroine và 2,5 gam Methamphetamine cho Đào Thanh V thu được 520.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 1,51 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Phạm Hồng Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng hai chất ma túy đã bán cho Đào Thanh V và số ma túy cất giấu là 4,36 gam. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ Đ khai được Đặng Xuân C đưa cho nhờ bán hộ với giá 3.300.000 đồng, lãi bao nhiêu thì Đ hưởng.
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, tại đường đi thuộc khu vực thôn F, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Đào Thanh V bị Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,35 gam Heroine và 2,5 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 2,85 gam, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do bị cáo V mua của bị cáo Đ vào lúc 21 giờ ngày 27/01/2024 tại nhà thuê của bị cáo Đ ở bản X, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với số tiền 520.000 đồng (Năm trăm hai mươi nghìn đồng).
Hành vi của các Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Các Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi nêu trên Bị cáo Phạm Hồng Đ có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
Hành vi nêu trên Bị cáo Đào Thanh V có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
i) Hai chất ma túy trở len mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đố tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này."
5
Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố Bị cáo Phạm Hồng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Bị cáo Đào Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Về tính chất của vụ án: Hành vi bán chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời của bị cáo Đ và hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy các Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các Bị cáo để giáo dục các Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
[3.1] Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Đào Thanh V không có tình tiết tăng nặng nào.
Ngày 22/5/2012 bị cáo Phạm Hồng Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xử phạt 07 năm 06 tháng về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 59/2012/HSST, năm 2017 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Tuy nhiên, đến ngày 27/11/2019 bị cáo tiếp tục bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo bản án số 266/2019/HSST. Ngày 02/4/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Vậy nên thời hạn xóa án tích của hai bản án trên tính từ ngày bị cáo chấp hành án xong (ngày 02/4/2021). Ngày 28/01/2024 là ngày bị cáo phạm tội mới thì bản án số 266/2019/HSST đã được xóa án tích, còn bản án số 59/2012/HSST chưa được xóa án tích. Vì vậy, bị cáo Đ phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Về nhân thân:
Bị cáo Phạm Hồng Đ sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp bố mẹ. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2010 cho đến nay. Ngày 27/11/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội
6
tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 266/2019/HSST, ngày 02/4/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Hiện bản án đã được xóa án tích. Bị cáo Đ đã đi chấp hành án hình phạt tù 02 lần, trong đó còn 01 bản án vẫn còn án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục vi phạm pháp luật nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo Đào Thanh V sinh ra và lớn lên tại Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi học đến lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà làm ruộng phụ giúp gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo sử dụng chất ma túy từ năm 2018 cho đến nay. Ngày 04/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 18 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc số 08/2021/QĐ-TA, ngày 05/5/2022 chấp hành xong trở về địa phương. Bị cáo chưa được xóa tiền sự. Như vậy, bị cáo có nhân thân xấu nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo cải tạo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính các Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo Đ là tự do và bị cáo V là làm ruộng đều không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với Bị cáo Phạm Hồng Đ từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù; Bị cáo Đào Thanh V từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, Hội đồng xét xử thấy là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần chấp nhận.
[6] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Số Heroine bị thu giữ là 0,35 gam, đã gửi giám định hoàn lại 0,3 gam và số Methamphetamine bị thu giữ là 4,01 gam đã gửi giám định hoàn lại là 3,77
7
gam vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Đối với 02 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính màu đen, 01 khẩu trang màu trắng là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
- Số tiền 520.000 đồng thu giữ của Phạm Hồng Đ là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47/BLHS và điểm b khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
[8] Các vấn đề khác:
Tại phiên tòa ông Đặng Xuân C vắng mặt lần thứ 2 không có lý do và bà Bạc Thị T vắng mặt không có lý do, X thấy sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử.
Bị cáo Đ khai nguồn gốc số Methamphetamine Cơ quan điều tra thu giữ qua khám xét và nguồn gốc số ma túy mà Đ bán cho V do Bị cáo được Đặng Xuân C đưa cho Đ để bán, qua điều tra C khai không đưa ma túy cho Đ, việc giao nhận ma túy chỉ có một mình Đ biết. Do vậy không đủ căn cứ kết luận Đặng Xuân C là người đã đưa ma túy cho bị cáo Phạm Hồng Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát không đặt vấn đề xử lý, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với chị Bạc Thị T cho bị cáo Đ thuê nhà nhưng không biết Đ phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Các Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Phạm Hồng Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Bị cáo Đào Thanh V phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
8
2. Về hình phạt:
Xử phạt Bị cáo Phạm Hồng Đ: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 28/01/2024).
Xử phạt Bị cáo Đào Thanh V: 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 28/01/2024).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy: 0,3 gam Heroine và 3,77 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định; 02 túi nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 mảnh băng dính màu đen, 01 khẩu trang màu trắng.
- * Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 520.000 đồng của bị cáo Phạm Hồng Đ phạm tội mà có. (Đã thu)
(Vật chứng của vụ án đã được Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2024).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Đào Thanh V và bị cáo Phạm Hồng Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yên |
9
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phạm Hồng Đ 06 năm 06 tháng tù Xử phạt Đào Thanh V 03 năm 09 tháng tù
