|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST
Ngày 10 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Từ Anh Tuấn;
- Bà Phạm Tú Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 1991 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh H; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1968; có 01 người em, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Kim A, sinh năm 1962; thường trú: Số 542/38B N, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, Nguyễn Văn V sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung J7, sim số 0349717675, gọi bằng ứng dụng Zalo cho tài khoản tên “Chương” (không rõ nhân thân, lai lịch) đặt mua 300.000 đồng ma túy. Người có tài khoản tên C hẹn giao ma tuý cho V tại khu vực chợ Đ, phường B, thành phố T, tỉnh B. V điều khiển xe mô tô biển số 59S1- 42421 đến điểm hẹn chờ, C điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đến giao cho V 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng. Sau khi nhận được ma tuý, V để vào bao thuốc lá có cất giấu ma tuý vào học xe phía trước rồi điều khiển xe đi tìm chỗ sử dụng. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi V điều khiển xe đến trước nhà số B đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh B thì bị lực lượng tuần tra công an phường D yêu cầu V dừng xe kiểm tra. Lúc này, xe của V ngã ra đường làm vỏ bao thuốc lá và túi nilon chứa ma tuý rơi ra đường. V khai nhận túi nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy nên Công an phường D tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa V về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 vỏ bao thuốc là hiệu Jet bên trong có 01 túi nilon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu son đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711, dung tích xi lanh 108 cm³ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng, số IMEI1: 35341508582938, số IMEI2: 3534168058296, sim số 0349717675.
Kết luận giám định số 578/KL-KTHS(MT) ngày 20/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng 1,9602 gam.
Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 578/KL-KTHS(MT) ngày 20/10/2023 của Phòng K Công An tỉnh B.
Bản Cáo trạng số 130/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
- .01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 578/PC09, bên trong có M = 1,8835 gam, ma túy loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
- .01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và sim số 0349717675 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xác định các tài sản này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- .01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711 là tài sản hợp pháp của ông Kim A đứng tên chủ sở hữu với số đăng ký biển số 59S1-33610. Quá trình làm việc, ông Kim A xác định đã bán xe này đã bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch và không lưu giữ thông tin giấy tờ mua bán gì của xe mô tô nêu trên, hiện ông không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan và cũng không yêu cầu gì đến chiếc xe này. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ. Do đó, cần tịch thu xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711 vào ngân sách nhà nước.
- .01 biển số 59S1-42421 thu được là biển số của xe mô tô Honda Airblade có số khung: JF2704BY367234, số máy: JF27E1212201. Quá trình tố tụng xác định biển số này là của anh Nguyễn Việt Hoàng T1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh tại Công an phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xác định năm 2023 anh T1 không còn sinh sống ở địa phương cho đến nay. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng không có ai đến nhận, hiện biển số xe này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- .01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, màu trắng, số IMEI1: 35341508582938, số IMEI2: 3534168058296 là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V, bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu vào ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông tên có tài khoản zalo tên C đã bán ma túy cho Nguyễn Văn V hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình tố tụng, xác định biển số xe 59S1-42421 bị cáo sử dụng là biển số của xe mô tô Honda Airblade có số khung: JF2704BY367234, số máy: JF27E1212201 do anh Nguyễn Việt Hoàng T1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, anh T1 không còn sinh sống ở địa phương, đi đâu làm gì không rõ, cơ quan điều tra không thể làm việc với anh T1 nên không đưa anh T1 vào tham gia tố tụng của vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Kim A. Xét, sự vắng mặt của ông Kim A không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 18/10/2023; Kết luận giám định số 578/KL-KTHS(MT) ngày 20/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 18/10/2023, tại trước nhà số B đường A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh B, Công an phường D, thành phố D, tỉnh B tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,9602 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng 1,9602 gam, loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Văn V với mục đích để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 130/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh B truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo Nguyễn Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời bị cáo là người sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - 01 bì thư được niêm phong chứa ma túy đá (Methamphetamine) còn lại sau giám định có khối lượng 1,8835 gam là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và sim số 0349717675 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo xác định các tài sản này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711 là tài sản hợp pháp của ông Kim A đứng tên chủ sở hữu với số đăng ký biển số 59S1-33610. Quá trình làm việc, ông Kim A xác định đã bán xe này đã bán cho một người không rõ nhân thân, lai lịch và không lưu giữ thông tin giấy tờ mua bán gì của xe mô tô nêu trên, hiện ông không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan và cũng không yêu cầu gì đến chiếc xe này. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo tìm chủ sở hữu nhưng không ai đến liên hệ. Do đó, cần tịch thu xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711 vào ngân sách nhà nước.
- - 01 biển số 59S1-42421 thu được là biển số của xe mô tô Honda Airblade có số khung: JF2704BY367234, số máy: JF27E1212201. Quá trình tố tụng xác định biển số này là của anh Nguyễn Việt Hoàng T1 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh tại Công an phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xác định năm 2023 anh T1 không còn sinh sống ở địa phương cho đến nay. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố D đã đăng báo tìm chủ sở hữu theo quy định nhưng không có ai đến nhận, hiện biển số xe này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, màu trắng, số IMEI1: 35341508582938, số IMEI2: 3534168058296 là tài sản của bị cáo Nguyễn Văn V, bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu vào ngân sách nhà nước.
[9] Đối với người đàn ông tên có tài khoản zalo tên C đã bán ma túy cho Nguyễn Văn V hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo V cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số: 578/PC09 của phòng KTHS – Công an tỉnh B. Khối lượng mẫu vật niêm phong: M = 1,8835 gam loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ bao thuốc lá Jet, 01 (một) sim số 0349717675 và 01 (một) biển số 59S1-42421.
- - Tịch thu vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu sơn đen đỏ, số khung: RLHJF2709BY808226, số máy: JF27E0916711, dung tích xi lanh 108cm³ và 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung J7, số IMEI1: 35341508582938, số IMEI2: 3534168058296.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Mai |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Vũ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
