|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày 09-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thi
Bà Bùi Thị Nhàn
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Quang K, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1983 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Vũ Thị G và 03 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12 tháng 3 năm 2024; có mặt.
- Bị hại: Anh Ngô Văn P, sinh năm 1981 (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Bà Trương Thị N, sinh năm 1960 (là mẹ đẻ của anh P); vắng mặt
- + Chị Phạm Thị H, sinh năm 1982 (vợ của anh P); vắng mặt
- + Cháu Ngô Quỳnh N1, sinh năm 2006 và cháu Ngô Thanh T1, sinh năm 2009 (là con đẻ của anh P); vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của các cháu Ngô Quỳnh N1 và Ngô Thanh T1: chị Phạm Thị H, sinh năm 1982 (là mẹ đẻ); vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị H và bà Trương Thị N: Anh Ngô Văn P1, sinh năm 1983; vắng mặt.
Đều có địa chỉ tại: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn A, huyện A, T.P H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quang K (có giấy phép lái xe ô tô) là lái xe chở hàng cho bà Vũ Thị H1, sinh năm 1984, địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng, giữa K và bà H1 có ký hợp đồng lao động ngày 20/9/2023. Khoảng hơn 19 giờ ngày 12/01/2024, Phạm Quang K điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-290.92 (xe ô tô thuộc sở hữu của bà Vũ Thị H1) trên Quốc lộ E từ Hải Phòng đi Hải Dương. Đến gần Trạm thu phí số B, K cho xe đi vào đường trục xã L để tránh trạm thu phí, khi đến khu vực cánh đồng thuộc thôn D, xe ô tô của K đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 15C1-357.63 do anh Ngô Văn P, sinh năm 1981, trú tại thôn D, xã L, huyện A, thành phố hải P điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả anh P bị thương nặng, đã bị tử vong trên đường đi cấp cứu, xe mô tô 15C1-357.63 bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại đường liên xã thuộc thôn D, xã L, huyện A. Mặt đường được trải nhựa áp phan nhẵn, phẳng, rộng 7,1m, được chia thành 02 chiều đường riêng biệt bằng vạch kẻ sơn màu vàng không liên tục ở giữa, mỗi chiều đường rộng 3,55m.
Lấy cột bê tông tại vỉa hè cơ quan Hợp tác xã S, bên phải chiều đường quốc lộ 5 đi thôn C làm điểm mốc; mép đường bên phải chiều đường T đi quốc lộ E làm mép đường chuẩn. Mặt đường có dấu vết trượt xước liên tục trên mặt đường dài 5,15m, có chiều từ thôn C đi Quốc lộ E; điểm đầu và điểm cuối của dấu vết lần lượt cách mép đường là 1,92m và 1,15m; điểm đầu dấu vết cách điểm mốc là 3,6m. Dấu vết máu trong diện (0,47x0,35)m, trên bãi đất ven đường của chiều đường thôn C đi Quốc lộ E, điểm gần nhất của dấu vết cách điểm mốc 14,5m. Xe mô tô 15C1-357.63 đỗ dựng chân trống trên chiều đường T về quốc lộ E, đầu xe hướng quốc lộ E; trục sau xe cách điểm mốc 18,4m. Đám nhựa vỡ trong diện (6,7x1,4)m rải rác tại chiều đường thôn C về quốc lộ E; điểm gần nhất trùng mép đường chuẩn, cách điểm mốc 2,8m. Xe ô tô 15C-290.92 đỗ sát mép đường của chiều đường quốc lộ 5 về thôn C; đầu xe hướng về thôn C; trục sau bên trái xe cách điểm mốc 68,3m.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 391/KL-KTHS, ngày 07/02/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Nạn nhân Ngô Văn P chết do chấn thương sọ não. Tìm thấy cồn (E) trong máu, nồng độ là 537mg/100ml.
Tại kết quả Kiểm tra nồng độ cồn, chất ma túy của Phạm Quang K ngay sau khi xảy ra tai nạn, xác định: Không có E và âm tính với các chất ma túy.
Kết quả khám các phương tiện: Xe mô tô 15C1-357.63 có các dấu vết, yếm xe bên trái vỡ rời khỏi vị trí lắp ráp; mặt ngoài phần yếm này có bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn. Mặt ngoài phía trước giảm xóc trước bên trái có đám dấu vết nõm, khuyết kim loại, chiều hướng từ trước về sau. Giá để chân phía trước bên trái bị bẹp, xô lệch, chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Giá để chân phía sau bên trái bị xô lệch, cong gập chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên (bút lục 74, 75). Xe ô tô 15C-290.92 có các dấu vết: Ốp kim loại cánh cửa bên trái phía dưới rời khỏi vị trí lắp ráp. Ốp nhựa phía dưới đầu xe bên trái bị vỡ, khuyết. Ba - đờ - sốc bên trái có nhiều dấu vết trượt xước, trượt sạch bụi. Mặt ngoài lốp xe phía trước bên trái có đám dấu vết trượt xước, rách cao su; ốp la zăng của lốp xe này có đám dấu vết mài trượt kim loại, bám dính tạp chất màu xanh, trắng. Hai thanh kim loại bảo vệ thành xe bên trái có đám dấu vết trượt xước. Phía trước mặt ngoài thành xe bên trái có đám dấu vết trượt xước kim loại, sạch bụi, bám dính tạp chất màu đen dạng sơn, màu đỏ dạng tổ chức cơ thể người.
Tại Bản kết luận giám định số 372/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Dấu vết trượt sạch bụi (màu nâu), trượt xước mất kim loại màu bạc, bề mặt bám dính tạp chất màu bạc (dạng mạt kim loại) theo chiều ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe ở bu lông bắt la-zăng bánh trước bên trái (bên lái) xe ô tô mang biển kiểm soát 15C-290.92, phù hợp với dấu vết hằn trượt mất kim loại màu bạc, bề mặt bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất), màu bạc (dạng mạt kim loại) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài càng giảm sóc bánh trước bên trái xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1-357.63. Dấu vết ở trên xe ô tô mang biển kiểm soát 15C-290.92 và xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1-357.63 tại các vị trí này được hình thành khi hai phương tiện di chuyển ngược chiều va chạm với nhau.
Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô 15C1-357.63 là 5.380.000 đồng..
Kết quả kiểm tra các đoạn camera đã thu giữ thể hiện: Ngay trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn 1/2 phần đầu xe bên lái của xe ô tô 15C-290.92 nằm trên chiều đường thôn C đi quốc lộ E. Phần đầu xe bên lái va chạm với xe mô tô 15C1-357.63.
Tại Cáo trạng số 140/CT-VKS-AD ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương truy tố bị cáo Phạm Quang K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quang K khai nhận hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-290.92 gây tai nạn làm anh Ngô Văn P chết như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo để cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Quang K từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định của pháp luật. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe của bị cáo thu giữ trong vụ án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, phù hợp với các kết luận giám định, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 19 giờ ngày 12/01/2024, tại đường trục thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng, Phạm Quang K điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-290.92 (có giấy phép lái xe ô tô tải) theo hướng từ Quốc lộ E đi thôn C, xã L đi lấn sang phần đường ngược chiều để vượt xe đi cùng chiều phía trước đã đâm vào xe mô tô 15C1-357.63 do anh Ngô Văn P điều khiển đi chiều ngược lại, hậu quả làm anh P tử vong, xe mô tô bị hư hỏng. Hành vi điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-290.92 của Phạm Quang K vượt xe không tuân thủ quy tắc giao thông đường bộ, khi trong đoạn đường định vượt có xe chạy ngược chiều đã vi phạm khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết 01 người nên hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về lỗi: Trong vụ án này, bị cáo có lỗi không tuân thủ quy định của Luật Giao thông đường bộ khi tham gia giao thông, không chú ý quan sát, vượt xe không đảm bảo an toàn.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, gây tâm lý lo ngại cho người tham gia giao thông. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú có xác nhận của địa phương; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết. Do vậy, áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của Chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo như phân tích ở trên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000đồng và khắc phục sửa chữa xe mô tô của bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết. Đối với xe 01 xe ô tô tải 15C-290.92 cùng toàn bộ giấy tờ thu giữ liên quan của bà Vũ Thị H1, 01 mô tô biển kiểm soát 15C1-357.63 của anh Ngô Văn P, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của bị hại. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G1 cấp ngày 03/6/2021 mang tên Phạm Quang K.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quang K.
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Quang K 21 (Hai mươi mốt ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (Bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Quang K cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- - Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- - Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- - Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
- - Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Quang K.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo Phạm Quang K Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở G1 cấp ngày 03/6/2021 mang tên Phạm Quang K.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Quang K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang Khắc
