|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26-6-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Ông Võ Nguyên Vũ.
- Thư ký phiên toà: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện P
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.
Bị đơn: Chị Trần Thị É, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 2 năm 2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:
Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị É có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 24/9/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, chị É sa vào cờ bạc, nợ nần, không chăm lo gia đình. Nguyên đơn đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị É vẫn không chịu từ bỏ. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay, anh Đ và chị É sống ly thân không thường xuyên liên lạc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không khắc phục được. Nay anh Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn chị Trần Thị É.
Về con chung: Anh Đ trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung là cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 27/02/2011; cháu Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 08/3/2013; cháu Nguyễn Thanh N, sinh ngày 24/11/2015 và cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 30/12/2018. Anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả 04 con chung cho anh Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi mỗi con chung thành niên, đủ 18 tuổi; không yêu cầu bà Trần Thị É cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để bị đơn - chị Trần Thị É đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng chị É vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ, cho anh Đ được ly hôn với chị Trần Thị É. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Đ, giao 04 con chung là cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 27/02/2011; cháu Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 08/3/2013; cháu Nguyễn Thanh N, sinh ngày 24/11/2015 và cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 30/12/2018 cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; chị É không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung nên không xem xét. Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Trần Thị É đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị É không đến làm việc, không cung cấp tài liệu, chứng cứ là tự chối bỏ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu thu thập được để giải quyết vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Trần Thị É chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa anh Đ và chị É, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do lỗi chị É không lo làm ăn, không quan tâm gia đình, mặc dù anh Đ đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị É không tiếp thu, tiếp tục tái diễn hành vi. Tình trạng này khiến quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Hai bên gia đình đã từng tổ chức hòa giải nhưng không mang lại kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 cho đến nay, không còn liên hệ hay chăm sóc lẫn nhau, mỗi người một cuộc sống riêng biệt. Tòa án đã thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như mở phiên tòa lần thứ nhất nhưng chị É đều vắng mặt, đã chứng tỏ chị É có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Như vậy, vợ chồng anh Đ, chị É đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ, cho anh Đ được ly hôn với chị É là đúng quy định của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tại phiên tòa.
[3] Về con chung: Anh Đ và chị É có 04 con chung là cháu Nguyễn Thành P, sinh ngày 27/02/2011; cháu Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 08/3/2013; cháu Nguyễn Thanh N, sinh ngày 24/11/2015 và cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 30/12/2018; hiện cả 04 con chung đang sinh sống cùng anh Đ. Anh Đ xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 người con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của anh Đ là chính đáng, cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P, Đ1, N và phù hợp với thực thế hiện nay cả 04 con chung đều đang do anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của anh Đ.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho anh Đ rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Anh Đ trình bày anh có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu chị É cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ, cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Trần Thị É. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 04 người con chung là Nguyễn Thành P, sinh ngày 27/02/2011; cháu Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 08/3/2013; cháu Nguyễn Thanh N, sinh ngày 24/11/2015 và cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 30/12/2018 cho anh Nguyễn Văn Đ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi; chị Trần Thị É không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn; được khấu hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà anh Đ đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002551 ngày 13/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thúc Mỹ |
Bản án số 142/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 142/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đoan và Trần Thị Én ly hôn, tranh chấp nuôi con
