Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 142/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25/6/2025.

V/v: “Tranh chấp hôn nhân

và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương.

Ông Lê Hữu Tới

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Chuỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 67/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1987.

  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  • * Bị đơn: Anh Trần Thế A, sinh năm 1985.

  • Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  • Nơi cư trú hiện nay: Malaysia.

(Tại phiên tòa vắng mặt anh Trần Thế A, chị Ngô Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Toà án ngày 14/3/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Ngô Thị T trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị và anh Trần Thế A kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa ngày 15/01/2008. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì xuất hiện nhiều bất đồng quan điểm. Đến cuối năm 2018, anh Thế A sang Malaysia xuất khẩu lao động và từ đó phát sinh mâu thuẫn nhiều hơn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước, mỗi người một nơi, không liên lạc với nhau và cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Từ khi sang Malaysia anh Thế A không quan tâm đến chị, chị không biết địa chỉ cụ thể của anh hiện nay ở đâu, như thế nào để cung cấp cho Tòa án. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Thế A.

2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên chị Ngô Thị T không yêu cầu Toà án giải quyết

3. Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung hay công nợ gì chung nên chị Ngô Thị T cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết tại Toà án, chị T trình bày anh Thế A vẫn ở Malaysia nhưng chị không biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án, chị đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa thu thập thông tin xuất, nhập cảnh đối với anh Trần Thế A. Tại Công văn số 580/P08-T1 ngày 19/3/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh T xác nhận anh Trần Thế A, sinh ngày 13/10/1985 có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, xuất cảnh lần đầu ngày 09/02/2014 qua cửa khẩu Quốc tế C1 và nhập cảnh ngày 05/10/2016 qua cửa khẩu sân bay quốc tế N đều bằng Hộ chiếu số B8353051. Lần xuất cảnh gần nhất ngày 26/4/2019 qua cửa khẩu quốc tế C2 bằng Hộ chiếu số C7114093, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Anh Thế A vẫn thường xuyên liên lạc với mẹ đẻ của mình là bà Nguyễn Thị T1, địa chỉ ở thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin từ mẹ đẻ của anh Thế A.

* Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/5/2025, bà Nguyễn Thị T1 (mẹ đẻ của anh Thế A) trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Trần Thế A. Chị Ngô Thị T là vợ anh Thế A và là con dâu của bà. Năm 2008 anh Thế A và chị T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Sau khi kết hôn anh Thế A và chị Thủy C sống cùng gia đình bà tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Cuối năm 2018 anh Thế A đi xuất khẩu lao động tại Malaysia và đến nay chưa về Việt Nam. Việc anh Thế A, chị T mâu thuẫn như thế nào bà không được biết. Thỉnh thoảng anh Thế A có gọi điện về hỏi thăm sức khỏe của bố mẹ và gửi tiền về phụ chị

nuôi bố mẹ đẻ nhưng anh Thế A không nói địa chỉ của anh tại Malaysia, vì vậy gia đình không biết để cung cấp cho Tòa án.

Nay chị T làm đơn xin ly hôn với anh Thế A. Quan điểm của bà T1 việc chị T và anh Thế A ly hôn hay không là quyền của anh, chị, bà không can thiệp. Về con chung: Vợ chồng chị T và anh Thế A không có con chung. Về tài sản chung thì vợ chồng chị T và anh Thế A không có tài sản gì. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã đến làm việc và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Bản thân bà là mẹ đẻ của anh Thế A nên đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh Thế A được biết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Trần Thế A vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử (HĐXX) công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị T; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh Thế A là bà Nguyễn Thị T1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ngô Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Thế A; Về con chung vợ chồng chị T anh Thế A không có con chung nên đề nghị Toà án không giải quyết. Tài sản chung của vợ chồng chị T không yêu cầu nên đề nghị Toà án không giải quyết. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền của Tòa án: Chị Ngô Thị T là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hoá, bị đơn là anh Trần Thế A đăng ký hộ khẩu tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống và lao động tại Malaysia được xác nhận thông qua Phòng Q - Công an tỉnh T (Tại văn bản số 580/PA08-T1 ngày 19/3/2025). Do trong vụ án có nguyên đơn cư trú tại tỉnh Thanh Hoá, bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa hiện đang cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng Dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2] Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị Ngô Thị T cho biết anh Trần Thế A đã sang Malaysia sinh sống và làm việc nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Thế A tại nước ngoài. Chị T chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Thế A ở Việt Nam là gia đình bà Nguyễn Thị T1, địa chỉ ở thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng bà T1 đều trình bày không biết địa chỉ của anh Thế A ở Malaysia. Tuy anh Thế A thường xuyên liên lạc với gia đình qua điện thoại nhưng không nói địa chỉ của anh hiện nay ở nước ngoài. Do vẫn thường xuyên liên lạc với anh Thế A nên bà T1 sẽ có trách nhiệm thông báo cho anh Thế A biết. Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như các văn bản tố tụng của Toà án cho bà T1 để bà thông báo lại cho anh Thế A, đồng thời tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị Ngô Thị T vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trần Thế A mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Trần Thế A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai và các tài liệu gửi đến Tòa án, chị T đều trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, tranh cãi với nhau khiến tình cảm vợ chồng không còn như trước. Đến cuối năm 2018, anh Trần Thế A đi sang Malaysia sinh sống và lao động, mỗi người một nơi và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã không liên hệ với nhau, chị không có địa chỉ cụ thể của anh Thế A tại Malaysia nên không cung cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Thế A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Trần Thế A.

[2.2] Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Trần Thế A không có con chung nên Toà án không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản, công nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Anh Trần Thế A không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh Thế A yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Chị Ngô Thị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 51; Điều 56; Khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5; Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Ngô Thị T.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị T được ly hôn anh Trần Thế A.

  2. Về con chung: Chị Ngô Thị T và anh Trần Thế A không có con chung nên Toà án không giải quyết.

  3. Về tài sản, công nợ chung: Chị Ngô Thị T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Trần Thế A không có văn bản thể hiện quan điểm giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu anh Thế A yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

  4. Về án phí: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu số 0000622 ngày 28/3/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa.

  5. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị T và anh Trần Thế A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, TH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS vụ án;
  • - Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2025/HNGĐ-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 142/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger