TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 – 6 – 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vụ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin;
Bà Trần Thị Đổi.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 319/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1996
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà A và ông L có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị A trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn L là vợ chồng cưới nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 29/7/2015. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cải vã, không tìm được tiếng nói chung, chung sống không hạnh phúc nên đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông L có 02 con chung là Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày 12/6/2015 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 14/9/2021. Khi ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Bà A xác định bà và ông L không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà A xác định bà và ông L không có nợ chung.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày tại bản tự khai ngày 05/6/2025 như sau: Ông thống nhất với lời trình bày của bà A về điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên ông đồng ý ly hôn với bà A.
Về con chung: Ông đồng ý giao 02 con chung là Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày 12/6/2015 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 14/9/2021 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Ông L xác định ông và bà A không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông L xác định ông và bà A không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị A khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn L. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Ông L hiện đang cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2]. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị A và bị đơn là ông Nguyễn Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng nguyên đơn.
[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị A:
[3.1]. Về hôn nhân: Xét thấy, bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn L tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 72/2015 đăng ký ngày 29/7/2015 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp, nên xác định hôn nhân giữa bà A và ông L là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà A và ông L đã phát sinh mâu thuẫn như lời bà A và ông L trình bày và từ khi sống ly thân đến nay, ông L không tìm ra được biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ với nhau.
Tại lời trình bày của bà A xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông L được nữa nên kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông L. Đồng thời, ông L cũng đồng ý ly hôn với bà A. Điều đó chứng tỏ mẫu thuẫn tình cảm giữa bà A và ông L là có thật, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà A và ông L đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Từ các phân tích trên, xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị A đối với ông Nguyễn Văn L là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2]. Về nuôi con chung: Theo quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “...Vợ, chồng được quyền thỏa thuận người trực tiếp nuôi con...; Tại thời điểm xét xử vụ án, bà A xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày 12/6/2015 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 14/9/2021 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Đối với ông L thì ông đồng ý giao 02 con chung là Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày 12/6/2015 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 14/9/2021 cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
[3.3]. Về chia tài sản chung: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn L thống nhất xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[3.4]. Về nợ chung: Bà à Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Văn L xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị A phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Anh .
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Văn L.
- Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Hoàng A1, sinh ngày 12/6/2015 và Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 14/9/2021 (hiện bà A đang nuôi dưỡng). Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con do bà A không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì người trực tiếp nuôi con, người không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010390 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà A đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông L không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vụ |
Bản án số 142/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 142/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị A ly hôn Hồ Văn L
