Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 142/2025/DS-PT

Ngày 24 tháng 6 năm 2025

V/v tranh chấp “Chia di sản

thừa kế”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thuận Lợi.

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Phan Thị Minh Tâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 239/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Chia di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2024/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số A Khúc T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Thành B, sinh năm 1946; nơi cư trú: Số D K, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy uỷ quyền được chứng nhận số 347 ngày 18/10/2021) (có mặt)

Đồng bị đơn:

  • - Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1947;
  • - Bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1945;
  • - Ông Nguyễn Duy C1, sinh năm 1971;
  • - Bà Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1974;
  • - Ông Nguyễn Duy C2, sinh năm 1975;

2

Cùng nơi cư trú: Số E T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (ông C có mặt, còn lại vắng mặt).

(Người kháng cáo ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, bà Nguyễn Hồng T1, ông Nguyễn Duy C2 là bị đơn trong vụ án.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Phạm Thành B là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:

Bà Nguyễn Thị H1 được UBND tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01633QSDĐ/Aa ngày 04/02/2002 đất có diện tích 74,6 m² gắn liền với căn nhà có kết cấu sàn ván, sườn gỗ dầu, mái ngói tọa lạc tại số E T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Ngày 08/11/2004, bà H1 lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Mỹ H (Tờ di chúc ngày 08/11/2004 có chứng thực của UBND phường M). Ngày 23/3/2011 bà H1 mất (giấy chứng tử số 28/KT/MB ngày 28/3/2011). Đến năm 2007, Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất của bà H1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01633QSDĐ/Aa ngày 04/02/2002, diện tích thực tế còn lại là 22,4m² gắn liền với căn nhà có kết cấu nền C3, gạch bông vách tường, ván, khung bê tông cốt thép + khung gỗ dầu, mái tole tọa lạc tại số E T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Năm 2011 bà H1 chết.

Nay bà H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế bà H1 theo tờ di chúc ngày 08/11/2004; Yêu cầu những người đang sinh sống tại nhà đất nêu trên gồm các ông bà Nguyễn Văn C, Nguyễn Hồng T, Nguyễn Duy C1, Nguyễn Hồng T1 và Nguyễn Duy C2 trả lại nhà đất nêu trên cho bà H và tự nguyện hỗ trợ gia đình ông C 30.000.000 đ chi phí di dời, đồng ý cho lưu cư 03 tháng để các ông bà nêu trên có thời gian tìm nơi ở mới.

Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà H: Bản sao tờ di chúc ngày 08/11/2004 của bà Nguyễn Thị H1 có chứng thực của UBND phường M ngày 10/11/2004. Bản sao bản án sơ thẩm số 160/2004/DS-ST ngày 19/10/2004, bản sao bản án phúc thẩm số 98/2005/DS-PT ngày 24/3/2005, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 21/2011/QÐST-SD ngày 08/4/2011. Công văn số 473 ngày 16/7/2008 của Phòng quản lý đô thị TP L; Công văn số 918 ngày 07/5/2009 của UBND thành phố L

Quá trình giải quyết, bà H thống nhất với giá do Hội đồng định giá định theo biên bản định giá ngày 24/11/2023; Tại phiên tòa, ông B là người đại diện của bà H trình bày do thời gian định giá đã lâu nên sẽ có biến động về giá, tuy nhiên ông không yêu cầu định giá lại.

Về chí phí tố tụng và án phí: Yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

- Quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày:

3

Ông Nguyễn Văn C là con nuôi của bà Nguyễn Thị H1. Ông C là chồng bà Nguyễn Hồng T và là cha của các ông bà Nguyễn Duy C1, Nguyễn Hồng T1 và Nguyễn Duy C2. Ông C, bà T, ông C1, ông C2 và bà T1 sống chung nhà với bà H1 từ năm 1975 đến năm 2011 khi bà H2 mất và được có tên trên sổ hộ khẩu do bà H1 là chủ hộ.

Trong quá trình chung sống tại nhà bà H1, vợ chồng ông tảo tần mua bán để nuôi mẹ H1, cũng như tu sửa lại nhà cửa vì nhà bằng gỗ dầu, xuống cấp theo thời gian. Ngoài ra vợ chồng ông cũng tự lấn chiếm phần đất phía sau nhà là đường H để xây dựng thêm mái che cho vợ chồng cùng với các con ở. Bà H1 ở phần nhà trước cho thoải mái. Đến khi có chủ trương hợp thức hóa quyền sử dụng đất thì ông đã đề cho bà H1 xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất luôn phần đất ông tự lấn chiếm. Vì thế tổng diện tích đất bà H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 74,6m².

Năm 2006, nhà nước thu hồi nhà và diện tích đất 52,14m² của bà H1 để mở rộng cầu N, đền bù cho bà H1 số tiền 665.513.000 đồng và một nền tái định cư ở phường M. Bà H1 nhận tiền, giao mặt bằng cho Đ giải phóng mặt bằng và về ở chung nhà với Nguyễn Thị Mỹ H đến năm 2011 thì bà H1 mất. Gia đình ông gồm vợ chồng và 3 đứa con tiếp tục ở lại trong nhà căn nhà nêu trên diện tích 22,4m². Do nhà cũ hư hao, đã qua rất nhiều lần sửa chữa bằng gạch tole, rồi nâng cấp nền nhà và xây dựng kiên cố như ngày hôm nay. Năm 2011 ông C được cấp hộ khẩu. Suốt một thời gian dài không ai tranh chấp chứng tôi mới xây dựng được chỗ ở ổn định đến nay.

Ông C xác định, hiện nay trên phần nhà đất đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị Mỹ H chỉ có ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Hồng T trực tiếp sinh sống. Các con của ông C và bà T là Nguyễn Duy C1, Nguyễn Hồng T1 và Nguyễn Duy C2 hiện đang sinh sống ở nơi khác.

Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông C không đồng ý. Do Di chúc của Nguyễn Thị Mỹ H nộp cho Tòa trong lúc đã có quyết định thu hồi đất của bà H1 và nhà nước cũng không cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 chứng tỏ phần đất này là của gia đình ông tự lấn chiếm.

Ông C thống nhất với giá trị do Hội đồng định giá định theo biên bản định giá ngày 24/11/2023. Tổng giá trị nhà đất là 819.452.000 đồng;

Về chi phí tố tụng và án phí: Yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn còn lại là các ông bà Nguyễn Hồng T, Nguyễn Duy C1, Nguyễn Hồng T1 và Nguyễn Duy C2:

Các ông bà thống nhất ý kiến và lời trình bày của ông Nguyễn Văn C và có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình toà án giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2024/DS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã xử:

4

Căn cứ các Điều 624, 626, 627, khoản 4 Điều 628, Điều 631, 643, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 điều 157, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xét xử vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, ông Nguyễn Duy C2 và bà Nguyễn Hồng T1.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H.

Công nhận một phần di chúc ngày 08/11/2004 của bà Nguyễn Thị H1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H được thừa hưởng quyền sử dụng đất diện tích là 22,4m2 được giới hạn bới các điểm giới hạn bởi các điểm 34, 30, 31, 32, 33, 35, 41 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 ngày 12/4/2023.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với yêu cầu chia di sản là căn nhà tại số E T, khóm B, phường M, Tp .

Buộc bà Hoàng H3 lại giá trị căn nhà cho ông C, bà T, ông theo biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2023 số tiền 10.892.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ căn nhà với kết cấu nền gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch, sàn lầu thả mầm sắt thép hợp, trãi vĩ tole, đổ bê tông, lót gạch men, mái tole gắn liền diện tích 22,4m2 tọa lạc số 54 T, khóm B, phường M, Tp . theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ3 lập ngày 12/4/2023.

Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, ông Nguyễn Duy C2 và bà Nguyễn Hồng T1 được quyền lưu trú tại căn nhà nêu trên trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn 06 tháng phải giao lại nhà và đất cho bà Nguyễn Thị Mỹ H quản lý, sử dụng.

Bà Nguyễn Thị Mỹ H có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo đúng quy định của pháp luật hiện hành

2. Công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mỹ H hỗ trợ chi phí di dời nhà cho các ông bà Nguyễn Văn C, Nguyễn Hồng T, Nguyễn Duy C1, Nguyễn Duy C2 và Nguyễn Hồng T1 số tiền 30.000.000 đồng.

3. Về chi phí tố tụng: Bà Hoàng N chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà mình được chia số tiền 2.100.000đ. Bà H đã nộp đủ.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí số tiền 36.801.200 đồng. Án phí được khấu trừ vào 5.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số

5

0001612 ngày 22/8/2022 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H nộp bổ sung số tiền 31.801.200 đồng.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, thời hạn yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 25/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, Nguyễn Duy C1, bà Nguyễn Hồng T1, ông Nguyễn Duy C2 có đơn kháng cáo toàn Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2024/DS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, bà Nguyễn Hồng T1 và ông Nguyễn Duy C2 có đơn và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng thời cho rằng căn nhà gắn liền đất nêu trên; đang tranh chấp là tài sản do gia đình các bị đơn quản lý, sử dụng, có công sức sửa chữa, cải tạo, sinh sống ổn định từ trước đến nay, không thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Thị H1, nên không thể được xác định là di sản thừa kế theo di chúc.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và cam kết không cung cấp chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, qua trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đồng bị đơn ông Nguyễn Văn C, Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, bà Nguyễn Hồng T1, ông Nguyễn Duy C2 nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn ủy quyền hợp lệ cho ông Phạm Thành B, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đồng bị đơn là bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, bà Nguyễn Hồng T1, Nguyễn Duy C2 đã được Tòa án cấp phúc thẩm tống đạt hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự nêu trên.

6

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Bà NguyễnThị Mỹ Hoàng khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị H1. Bà H1 chết năm 201, cấp sơ thẩm xác định còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 623 Luật Dân sự 2015 là phù hợp.

[4] Xét nội dung kháng cáo của đồng bị đơn:

[1.3] Xác định di sản thừa kế:

Căn nhà kết cấu sàn ván, sườn gỗ dầu, mái ngói gắn liền với phần diện tích đất 74,6m², số thửa 301, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại số E T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01633 QSDD/Aa do UBND tỉnh A cấp ngày 04/02/2002 cho bà Nguyễn Thị H1).

Ngày 20/12/2006 nhà, đất nêu trên bị thu hồi theo Quyết định số 534 của UBND thành phố L, tỉnh An Giang; căn nhà được bồi thường hỗ trợ số tiền 665.513.000 đồng và một nền tái định cư ở phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị Kim Hoàng cung C4 tờ di chúc ngày 08/11/2004 của bà Nguyễn Thị H1 để lại căn nhà và đất nêu trên thể hiện về hình thức và nội dụng ngày, tháng, năm lập di chúc, họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc, họ tên người được hưởng di sản, di sản để lại và nơi có di sản được UBND phường M chứng thực cho bà H được thừa hưởng nhà đất nêu trên, đồng thời được UBND phường M chứng thực.

Diện tích 22,4m² đất này, trên đất có căn nhà hiện nay do ông C, bà T đang quản lý sử dụng chưa được cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất. Do đó, di chúc do bà Hoàng cung C4 có nội dung và hình thức phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015. Cấp sơ thẩm nhận định, căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Di chúc đương nhiên có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 630 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là có căn cứ.

- Về quyền sử dụng đất: căn cứ Quyết định về việc thu hồi đất số 534/QĐ-UBND, Quyết định về việc bồi thường, hỗ trợ ngày 20/12/2006 của UBND thành phố L; Công văn số 518 ngày 07/5/2009 của UBND thành phố L; Công văn số 743 ngày 16/7/2008 của Phòng quản lý đô thị; Bản trích đo hiện trạng ngày 12/4/2023 của Công ty TNHH Đ3 lập thì diện tích đất thực tế còn lại là 22,4m² đất.

Ông C cho rằng, phần diện tích đất này là do gia đình ông lấn chiếm nên không phải là di sản nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh. Do đó, di sản của bà H1 là quyền sử dụng đất được xác định là 22,4m² đất (được giới hạn bởi các điểm 34, 30, 31, 32, 33, 35, 41 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 ngày 12/4/2023) là có căn cứ.

7

- Về căn nhà: Theo nội dung di chúc ngày 08/11/2004, thể hiện cấu trúc căn nhà ngói sườn gỗ dầu, sàn ván, tọa lạc số 54, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại biên bản kiểm kê thiệt hại ngày 17/4/2007 của Hội đồng bồi thường thể hiện gác diện tích 28,25m2, sàn ván thao lao, vách gạch, vách tole, mái tole; phòng ngủ diện tích 8,38m2 nền canamic, vách gạch mái BTCT có dán đá mài. Tại Công văn số 743 ngày 16/7/2008 của Phòng quản lý đô thị thể hiện “... Hiện nay, trên phần diện tích đất này có căn nhà ở với cấu trúc như sau: nền ciment + gạch bông, vách tường + ván, khung BTCT+ khung gỗ, mái tole...";

Tại biên bản đo đạc, ghi nhận hiện trạng đất, nhà ở và các vật kiến trúc có trên khu đất tranh chấp ngày 30/3/2023 thể hiện “... căn nhà có cấu trúc nền gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch xây (gác suốt sắt hợp, trải vĩ tole, gải lưới B40, bê tông lót gạch men) ...” được giới hạn bởi các điểm 4, 5, 6, 24, 25, 23, 10, 8, 9 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 ngày 12/4/2023.

Lời khai của ông C, căn nhà gắn liền đất nêu trên do cụ H1 tuổi già sức yếu nên mọi sinh hoạt trong gia đình ông và bà T cùng gánh vác, mua bán tảo tần để có thu nhập nuôi gia đình và Bà H1. Xây dựng nhà vệ sinh, nhà tắm, bồn nước. Đổ móng nhà, tu sửa nhà cũ bị hư hao, xuống cấp lót dale sân. Nhận thấy, căn cứ các tài liệu nêu trên thể hiện căn nhà của bà H1 trong di chúc đã thay đổi so với hiện trạng ban đầu; ông C, bà T là những người sinh sống trực tiếp và lâu dài trong căn nhà. Ông C xác định hiện trạng căn nhà thay đổi là do ông và bà T tu bổ, xây dựng lại là có căn cứ.

Cấp sơ thẩm nhận định di sản căn nhà của bà H1 không còn tồn tại nên yêu cầu của bà H chia di sản là căn nhà theo di chúc ngày 08/11/2004 là không có căn cứ.

[2.4] Xác định hàng thừa kế:

Nguyên đơn và đồng bị đơn đều thống nhất, bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1922; chết năm 2011 (giấy chứng tử số 28/KT/MB ngày 29/3/2011 do UBND phường M cấp). Bà H1 không có chồng, không có con ruột, bà H1 có 02 con nuôi tên Nguyễn Ngọc Đ1 (đã mất) và Nguyễn Văn C. Bà C, ông Đ1 là hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của bà H1. Cấp sơ thẩm nhận định, ngày 08/11/2004, bà H1 lập tờ di chúc để lại toàn bộ nhà đất; toạ lạc tại số E T, khóm B, phường M, thành phố, L, tỉnh An Giang cho con ruột ông Nguyễn Ngọc Đ1 là bà Nguyễn Thị Kim H4 được thừa kế là có căn cứ, chấp nhận.

[3.4] Giá trị di sản:

Theo biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá thành phố L, tỉnh An Giang:

8

- Đất: Diện tích 22,4m² đất; tọa lạc số E T, khóm B, phường M, thành phố, L, tỉnh An Giang; giá trị: 808.560.000 đồng.

- Nhà cấu trúc nền gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch, sàn lầu thả mầm sắt thép hợp, trãi vĩ tole, đổ bê tông, lót gạch men, mái tole với diện tích xât dựng theo hiện trạng là 22,2m²; trị giá: 10.892.000 đồng.

[3.5] Quản lý di sản:

Bị đơn gồm ông C, bà T, anh C1, chị T1 và anh C2 đồng trình bày, đã sinh sống chung nhà với bà H1 năm 1975 nên được có tên trên sổ hộ khẩu do bà H1 là chủ hộ. Khi bà H1 còn sống thì ông C, bà T đang tranh chấp tài sản trên bằng bản án số 98/DSPT ngày 24/3/2005 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang và Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án số 21/2011/QĐST-DS ngày 08/4/2011 của toà án nhân dân thành phố Long Xuyên (Đình chỉ do bà H1 chết); điều này thể hiện rõ ý chí của bà H1 từ khi còn sống không muốn để lại nhà đất cho vợ chồng ông C quản lý sử dụng; cho nên tờ di chúc ngày 08/11/2004 của bà H1 để lại di sản nêu trên cho bà H4 mà không nhắc đến ông C và bà T trong tờ di chúc.

Theo lời khai của ông C, nhà đất nêu trên chỉ có ông C và bà T đang sinh sống trong nhà, các con là C1, C2 và T1 hiện nay ở tại thành phố Hồ Chí minh. Ông B đại diện hợp pháp của bà H4 trình bày, hiện tại bà hoàng không có nhà ở, gia đình phải đi thuê trọ từ mười mấy năm nay.

Cấp sơ thẩm nhận định, giao quyền sử dụng đất là di sản của bà H1 cho bà H4 quản lý, sử dụng đồng thời, bà Hoàng H3 lại giá trị căn nhà cho ông C, bà T theo biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2023 là phù họp với pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế và phù họp với ý chí nguyện vọng của người để lại di sản.

[5] Đối với số tiền được bồi thường, hỗ trợ đối với di sản là nhà, đất. Các đương sự không tranh chấp nên cấp sơ thẩm không xem xét.

[6] Tại phiên toà, ông B là người đại diện theo uỷ quyền của bà H4 tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời nhà cho các bị đơn ông C, bà T, ông C1, bà T1, ông C2 số tiền 30.000.000 đồng và cho thời hạn lưu cư 06 tháng là phù hợp. Cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.

Ông C yêu cầu được giao lại nhà đất cho bà H4 để được nhận ½ tổng giá trị nhà đất theo biên bản biên định giá của Hội đồng định giá toà án nhân dân thành phố Long Xuyên ngày 24/11/2023 với số tiền 409.726.000 đồng, không được ông B đại diện theo uỷ quyền của bà H4 đồng ý nên cấp sơ thẩm không xem xé là phù hợp.

[7] Bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ căn nhà với kết cấu nền gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch, sàn lầu thả mầm sắt thép hợp, trãi vĩ tole, đổ bê tông, lót gạch men, mái tole gắn liền diện tích 22,4m² đất; tọa lạc số E T, khóm B, phường M, thành phố. L, tỉnh An Giang (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ3 lập ngày 12/4/2023).

9

[8] Bà Nguyễn Thị Mỹ H có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đồng bị đơn. Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[10] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của đồng bị đơn không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Riêng ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Hồng T được miễn án phó dân sự phúc thẩm.

[11] Các quyết dịnh khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đồng bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, ông Nguyễn Hồng T1, ông Nguyễn Duy C2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 87/2024/DS-ST ngày 12/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Căn cứ các Điều 624, 626, 627, khoản 4 Điều 628, Điều 631, 643, 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 điều 157, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ H.

Công nhận một phần di chúc ngày 08/11/2004 của bà Nguyễn Thị H1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H được thừa hưởng quyền sử dụng đất diện tích là 22,4m2 đất; tọa lạc khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang được giới hạn bới các điểm giới hạn bởi các điểm 34, 30, 31, 32, 33, 35, 41 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ2 ngày 12/4/2023.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ H đối với yêu cầu chia di sản là căn nhà tại số E T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Buộc bà Hoàng H3 lại giá trị căn nhà cho ông C, bà T, ông theo biên bản định giá tài sản ngày 24/11/2023 số tiền 10.892.000 đồng.

10

Bà Nguyễn Thị Mỹ H được quyền sở hữu, sử dụng toàn bộ căn nhà với kết cấu nền gạch men, khung sắt tiền chế, vách gạch, sàn lầu thả mầm sắt thép hợp, trãi vĩ tole, đổ bê tông, lót gạch men, mái tole gắn liền diện tích 22,4m2 đất; tọa lạc số E T, khóm B, phường M, thành phố L (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Công ty TNHH Đ3 lập ngày 12/4/2023).

Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Duy C1, ông Nguyễn Duy C2 và bà Nguyễn Hồng T1 được quyền lưu trú tại căn nhà nêu trên trong thời gian 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn 06 tháng phải giao lại nhà và đất cho bà Nguyễn Thị Mỹ H quản lý, sử dụng.

Bà Nguyễn Thị Mỹ H có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo đúng quy định của pháp luật hiện hành

2. Công nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Mỹ H hỗ trợ chi phí di dời nhà cho các ông bà Nguyễn Văn C, Nguyễn Hồng T, Nguyễn Duy C1, Nguyễn Duy C2 và Nguyễn Hồng T1 số tiền 30.000.000 đồng.

3. Về chi phí tố tụng: Bà H nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mà mình được chia số tiền 2.100.000đ. Bà H đã nộp đủ.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí số tiền 36.801.200 đồng. Án phí được khấu trừ vào 5.000.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001612 ngày 22/8/2022 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà H phải nộp thêm 31.801.200đ.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Đồng bị đơn gồm ông Nguyễn Duy C2, bà Nguyễn Hồng T1 và ông Nguyễn Duy C1, mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng phúc thẩm đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001862; 0001861 và 0001859 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Các quyết dịnh khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

11

Nơi nhận:

  • - TANDTC (1)
  • - VKSND.AG (1)
  • - TAND huyện (1)
  • - THA huyện (1).
  • - Toà Dân sự (2)
  • - Văn phòng.(1)
  • - Phòng KTNV & THA (1)
  • - Đương sự “ Để thi hành”
  • - Lưu: HS.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thuận Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2025/DS-PT ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 142/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp “Chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger