TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
------------------------- | ----------------------------------------- |
Bản án số: 142/2024/KDTM- ST Ngày: 10/12/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thúy Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Thanh
Ông Lý Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa
Trong các ngày 18 tháng 11, ngày 03 và ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 63/2024/TLST - KDTM ngày 24 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 350/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 333/2024/QĐHPT ngày 30 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 342/2024/QĐHPT ngày 21 tháng 10 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 506/2024/QĐTNPT ngày 18/11/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty TNHH T1 ( gọi tắt là Công ty T1)
Trụ sở: Số I ngách B ngõ C đường H, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Hương G - Giám đốc. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Bùi Đình S - Luật sư Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Trụ sở: Số C N, phường Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Đăng ký số 23 ngày 25/5/2024 tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.Đều có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Tổng Công ty Cổ phần B (tên gọi tắt là MIC)
Trụ sở: Tầng 5,6 Tòa nhà MB, số B C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Uông Đông H - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Như H1, bà Nguyễn Thị Hương L và ông Nguyễn Đức A (văn bản ủy quyền ngày 01/11/2022 và ngày 10/5/2024); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H2 và ông Phan Minh T Luật sư Công ty L2 thuộc đoàn luật sư thành phố H. Đăng ký số 55 ngày 14/11/2024 tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội. Đều có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
* Theo đơn khởi kiện ngày 30/3/2024 và quá trình giải quyết, đại diện theo pháp luật của công ty TNHH T1 - Bà Lê Thị Hương G trình bày: Năm 2016 Công ty T1 được thành lập, mục đích là trở thành doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực cung ứng thành phẩm nội thất gỗ Acrylic ở Việt Nam và khu vực Đ. Trong quá trình hoạt động, ngày 05/10/2021 Công ty T1 ký hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040 - KDBH04 với MIC, số tiền bảo hiểm là 24.615.510.682VNĐ. Công ty T1 được cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt) số 11297/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021.
Hợp đồng bảo hiểm được ký mỗi năm một lần. Hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD - TS.1.1/040-KDBH04 là hợp đồng tái ký liên tục giữa hai bên từ năm 2019 đến năm 2021 để bảo hiểm các loại tài sản: máy móc sản xuất, hàng hóa lưu kho, tấm ván gỗ MDF các loại tại xưởng gỗ của Công ty T1 tại lô B khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội. Trước khi ký Hợp đồng bảo hiểm với MIC, Công ty T1 đã thông báo cho MIC về việc hệ thống phòng cháy, chữa cháy của công ty không đủ điều kiện theo quy định và không bao giờ được cấp Giấy chứng nhận phòng cháy, chữa cháy. MIC cử 4 người trong đó có một Phó Giám đốc xuống kiểm tra hiện trạng hệ thống phòng cháy, chữa cháy của Công ty T1 và Công ty T1 thông báo cho MIC biết việc Công ty bị đình chỉ hoạt động theo Quyết định đình chỉ hoạt động số 1991/QĐĐC-UBND ngày 19/9/2019 của Công an huyện P, Thành phố Hà Nội, MIC vẫn đồng ý ký Hợp đồng bảo hiểm với Công ty T1.
Ngày 21/10/2021 xưởng gỗ của Công ty T1 tại lô 2 khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội đã bị cháy toàn bộ hàng hóa, tài sản, trang thiết bị máy móc của công ty T1 và toàn bộ xưởng hơn 2000m² bị cháy rụi hoàn toàn, thiệt hại toàn bộ tài sản bên trong ước tính khoảng 25.000.000.000 VNĐ (hai mươi lăm tỷ đồng).
Vụ việc đã được Công an Thành phố H, Công an huyện P điều tra, giải quyết. Theo Thông báo kết luận giám định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ngày 05/6/2022 thì “Điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực cách tường phía Bắc khoảng 2,3m cách tường phía Đông khoảng 0,9m bên trong xưởng gỗ của Công ty TNHH T1 thuộc cụm C, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội. Nguyên nhân cháy: Do chập mạch điện trên đường dây điện làm cháy vỏ cách điện, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn dến vụ cháy nói trên”.
Sau khi xảy ra cháy nổ, MIC đã cử đại diện xuống hiện trường và chỉ định Công ty Cổ phần G1 (tên gọi tắt: Công ty N) tiến hành giám định thiệt hại. Công ty T1 đã phối hợp với Công ty N để giám định thiệt hại. Tuy nhiên, Công ty T1 không đồng ý với kết luận giám định của Công ty N. Theo bảng kê chi tiết hàng hóa, Công ty T1 nhận thấy bên Công ty cổ phần G1 và thẩm định tài sản Việt Nam đã không thẩm định hết các tài sản của Công ty T1, đã bỏ qua một số hàng hóa trong danh mục hàng tồn kho mà bên thẩm định căn cứ vào để thẩm định như vậy là thiệt hại cho Công ty T1.
Ngày 26/10/2022 Công ty T1 nhận được công văn của MIC về việc từ chối bảo hiểm do Công ty T1 vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy.
Từ 23/11/2022 đến thời điểm khởi kiện Công ty T1 đã rất nhiều lần liên hệ
2
với MIC gặp trực tiếp, liên hệ qua điện thoại có lập biên bản lần cuối cùng tháng 11/2023 nhưng không có kết quả.
Do tổn thất nặng nề nên Công ty T1 khởi kiện ra Tòa án đề nghị bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty T1. Công ty T1 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật buộc MIC phải thanh toán bảo hiểm cho Công ty T1 là 16.070.886.254 đồng và yêu cầu MIC phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật
* Theo văn bản ý kiến ngày 14/5/2024 và quá trình giải quyết, đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty cổ phần B (MIC) - ông Nguyễn Đức A trình bày:
Công ty T1 đã ký hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021 với MIC và Giấy chứng nhận bảo hiểm số 1129/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021 với các thông tin cơ bản sau: Thời hạn bảo hiểm từ 16h00 ngày 05/10/2021 đến 16h ngày 05/10/2022; Đối tượng được bảo hiểm: máy móc. Thiết bị theo danh mục đính kèm HĐBH; địa điểm bảo hiểm: xưởng gỗ của Công ty T1 tại lô B khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội; Quy tắc bảo hiểm áp dụng: Phần 1: bảo hiểm cháy nổ bắt buộc “ ban hành theo Nghị định 23/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Phần 2: Quy tắc bảo hiểm hảo hoạn và rủi ro đặc biệt – thiệt hại vật chất ban hành kèm theo Quyết định số 1182/2018/QĐ-MIC của MIC; Các điều khoản loại trừ, điều khoản cam kết bao gồm điều khoản cam kết bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy quy định tại điểm 3.2.6 khoản 3.2 Điều 3 HĐBH.
MIC xác nhận có ký 3 Hợp đồng bảo hiểm với Công ty T1 từ năm 2019, 2020 và 2021 trong đó có Hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021 và Giấy chứng nhận bảo hiểm số 1129/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021.
Ngày 21/10/2021, xưởng sản xuất gỗ công nghiệp của Công ty T1 bị cháy. Theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm, MIC đã chỉ định Công ty N thực hiện giám định tổn thất, đánh giá phạm vi, trách nhiệm bồi thường của MIC.
MIC đã nhận được kết luận giám định Công ty Noricontrol ngày 28/8/2024, đối với kết luận giám định này MIC không có ý kiến gì, MIC cho rằng Công ty N đã thực hiện giám định và ra kết luận giám định đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở tài liệu thu thập được và đánh giá của Công ty N trước đó, ngày 26/10/2022 MIC đã ban hành công văn số 799/MIC - GĐBTTSKT về việc thông báo trách nhiệm bảo hiểm đối với tổn thất cháy xảy ra ngày 21/10/2021 của Công ty T1. MIC xác định vụ tổn thất thuộc điều khoản loại trừ bảo hiểm theo quy định tại Điều 6 Nghị định 23/2018/NĐ-CP về phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm. Đồng thời Công ty T1 đã vi phạm điều khoản cam kết bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy quy định tại điểm 3.2.6 khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng bảo hiểm.
MIC và Công ty T1 đã có các công văn trao đổi số 079/2023/CV ngày 07/9/2023, công văn số 802/2023/MIC-GĐBT TSKT ngày 26/9/2023 do Công ty T1 đã vi phạm các quy định pháp luật về phòng cháy chữa cháy, vi phạm nghị định 23/2018/NĐ- CP và các điều kiện, điều khoản tại Hợp đồng bảo hiểm theo đó MIC không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm đối với vụ cháy ngày 21/10/2021 của Công ty T1 xảy ra tại cụm C, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội. Đề nghị Tòa án
3
xem xét, quyết định bác yêu cầu khởi kiện của công ty T1.
Tại phiên tòa:
* Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà Lê Lê Thị Hương G trình bày: Do mặt hàng sản xuất kinh doanh của công ty phải mua bảo hiểm bắt buộc nên chúng tôi tin tưởng và lựa chọn MIC để ký kết hợp đồng bảo hiểm do vậy công ty luôn mong muốn được hòa giải với MIC tuy nhiên MIC không đưa ra một số tiền bồi thường cụ thể nào để chúng tôi cân nhắc do vậy chúng tôi buộc phải yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong các năm liên tục 2019, 2020 và 2021 mỗi năm ký một hợp đồng có thời hạn một năm, phía MIC bao giờ cũng cử người xuống xưởng của công ty để khảo sát, đánh giá. Chúng tôi khai báo đầy đủ, cung cấp cho MIC các biên bản kiểm tra phòng cháy chữa cháy do Công an huyện P lập đều thể hiện nội dung công ty bị đình chỉ hoạt động. Vì công ty sản xuất các nguyên vật liệu dễ bị cháy nên công ty xin làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận phòng cháy, chữa cháy nhưng không được chấp thuận vì chúng tôi chỉ đi thuê địa điểm kinh doanh chứ không phải là chủ sở hữu nhà xưởng này. Tuy nhiên chúng tôi vẫn trang bị các thiết bị phòng cháy, chữa cháy tại khu vực kinh doanh của công ty để an toàn trong việc sản xuất, dẫn chiếu là mỗi khi kết thúc giờ làm việc, các hệ thống điện đều được tắt nguồn bảo đảm an toàn. Việc xảy ra cháy, nổ là ngoài ý muốn của Công ty nhưng MIC ban hành thông báo từ chối bồi thường bảo hiểm là gây khó khăn cho công ty. Nay Công ty đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc MIC phải thanh toán cho Công ty T1 tổng số tiền là 16.070.886.254VNĐ (mười sáu tỷ không trăm bảy mươi triệu tám trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi tư đồng) và lãi suất quá hạn tính từ ngày 26/10/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 03/12/2024 cụ thể lãi suất quá hạn: (9% x 150% = 13,5%/năm x 25 tháng x 16.070.886.254 VNĐ) + 16.070.886.254 VNĐ = tổng số tiền là: 20.590.823.012VNĐ (Hai mươi tỷ năm trăm chín mươi triệu tám trăm hai mươi ba ngàn không trăm mười hai đồng). Ngoài ra Công ty T1 không yêu cầu nào khác.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm: Công ty T1 đã mua bảo hiểm của MIC từ năm 2019, trước khi ký Hợp đồng bảo hiểm với MIC Công ty T1 đã thông báo cho MIC biết việc Công ty T1 bị Công an huyện P đình chỉ hoạt động do vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy nhưng MIC vẫn bán bảo hiểm cho Công ty T1. Do đó lý do để MIC từ chối bảo hiểm cho Công ty T1 là không có căn cứ. Với tinh thần thiện trí hòa giải, Công ty T1 chỉ chỉ yêu cầu MIC bồi thường số tiền là 13.000.000.000 đồng (mười ba tỷ đồng) nhưng MIC không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và cũng không thông báo kết quả đối với phương án trên như vậy MIC không có thiện trí hòa giải. Nay tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc MIC phải có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm cho Công ty T1 số tiền là 16.070.886.254 đồng (Mười sáu tỷ, không trăm bảy mươi triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, hai trăm năm mươi tư đồng) và lãi suất quá hạn tính từ ngày 26/10/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 03/12/2024 cụ thể lãi suất quá hạn: (9% x 150% = 13,5%/năm x 25 tháng x 16.070.886.254 VNĐ) + 16.070.886.254 VNĐ = Tổng số tiền là: 20.590.823.012VNĐ (Hai mươi tỷ năm trăm chín mươi triệu tám trăm hai mươi ba ngàn không trăm mười hai đồng). Ngoài ra Công ty T1 không yêu cầu nào khác.
4
* Đại diện theo ủy quyền của MIC – ông Lê Đức A1 trình bày: Trước khi ký Hợp đồng bảo hiểm với Công ty T1, MIC có cử người xuống kiểm tra hiện trạng của Công ty T1, lập hồ sơ khảo sát đầy đủ và thấy rằng Công ty T1 vẫn hoạt động bình thường nên chúng tôi ký Hợp đồng bảo hiểm. Trước khi ký hợp đồng cấp bảo hiểm, MIC không nhận được Quyết định đình chỉ hoạt động của Công ty T1. Biên bản kiểm tra phòng cháy chữa cháy ngày 27/3/2021 được MIC thu thập trong quá trình xác minh, giải quyết bồi thường. Bên cạnh đó theo luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn không quy định Doanh nghiệp bảo hiểm phải yêu cầu khách hàng cung cấp hồ sơ phòng cháy chữa cháy do vậy MIC không vi phạm về việc ký hợp đồng bảo hiểm. MIC chỉ bán bảo hiểm cho Công ty T1 chứ không bán bảo hiểm cho các khách hàng khác thuộc cụm liên hiệp P. Lý do MIC từ chối thanh toán bảo hiểm cho Công ty T1 là: Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị định 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Căn cứ theo điểm 3.2.6 khoản 3.2 Điều 3 Hợp đồng bảo hiểm Công ty T1 đã vi phạm điều khoản cam kết đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy. Căn cứ vào Biên bản kiểm tra phòng cháy chữa cháy ngày 27/3/2021 của Công an huyện P. Căn cứ Thông báo số 67/TB-CSĐT ngày 28/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P. Thông báo số 119/TB-CSĐT ngày 05/6/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện P kết luận nguyên nhân cháy: Do chập mạch điện trên đường dây dẫn điện làm cháy vỏ cách điện, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên.
MIC xác nhận sau sự kiện cháy xảy ra ngày 21/10/2021 Công ty T1 không còn hoạt động tại địa chỉ cụm C, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sự việc xảy ra cháy nổ đã được Công an huyện P lập hồ sơ và có quyết định không khởi tố vụ án, MIC chỉ nhận được bản phô tô Quyết định không khởi tố vụ án.
Sau khi xảy ra cháy nổ, MIC chỉ định Công ty cổ phần G1 tiến hành giám định thiệt hại của Công ty T1. Công ty cổ phần G1 kết luận sự kiện bảo hiểm thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Sau khi có kết luận giám định MIC thông báo cho Công ty T1 tại Công văn số 799 ngày 26/10/2022.
MIC cũng rất có thiện chí hòa giải với Công ty T1 để kết thúc vụ án. Công ty T1 yêu cầu MIC bồi thường số tiền 13 tỷ đồng, chúng tôi đã cân nhắc nhận thấy theo quy định tại Nghị định 23/2018/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về bảo hiểm chế độ bắt buộc trường hợp doanh nghiệp vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy thì không thuộc trường hợp được bảo hiểm, do vậy MIC không có trách nhiệm bồi thường cho Công ty T1. MIC đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm: Tại biên bản kiểm tra phòng cháy chữa cháy ngày 27/3/2021 Đội cảnh sát PCCC&CHCN – Công an huyện P đã chỉ ra các thiếu sót về PCCC của Công ty T1, tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử MIC cũng chưa nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Công ty T1 đã khắc phục xong các thiếu xót về công tác PCCC và đã được phép hoạt động. Công ty T1 bị đình chỉ hoạt động nhưng vẫn cố ý tiếp tục hoạt động có thể đây là hành vi cố ý vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy và là nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ cháy. Căn cứ Điều 3.2.6 của HĐBH thì MIC có quyền từ chối trách nhiệm không bảo hiểm đối với các tổn thất thiệt hại phát sinh liên quan đến các tài sản từ hành vi cố ý vi phạm. Không có căn cứ chứng minh
5
ALD đã cung cấp cho MIC biết về việc cơ sở kinh doanh đã bị đình chỉ hoạt động. Về giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra vụ cháy đề nghị HĐXX công tâm xem xét, đánh giá và không chấp nhận ý kiến đánh giá bổ sung trong hai lần bổ sung theo công văn số 367.08/24-CV ngày 28/8/2024; số 597.10/24=CV ngày 18/10/2024 của N1 về thiệt hại của Công ty T1. Giá trị thiệt hại của Công ty T1 lần đầu là 10,6 tỷ. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị định 23/2018/NĐ - CP thì không có trách nhiệm phải bồi thường cho Công ty T1. Công ty T1 yêu cầu thanh toán chậm trả là không có căn cứ vì hai bên đang xung đột có hay không có nghĩa vụ chi trả bảo hiểm chứ không tranh chấp về khoảng thời gian MIC phải chi trả cho Công ty T1, không có cơ sở xác định MIC đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1. Lỗi để xảy ra cháy nhà xưởng là do lỗi hoàn toàn thuộc về Công ty T1 do vậy không có cơ sở xác định MIC đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đề nghị tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
1.1.Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) có đơn khởi kiện yêu cầu buộc Tổng Công ty Cổ phần B (tên gọi tắt là MIC) có trụ sở Tầng 5&6, tòa nhà M, số B phố C, phường C, quận Đ, Thành phố Hà Nội phải có trách nhiệm bồi thường tiền bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt theo hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040 - KDBH04 ngày 05/10/2021. Căn cứ vào các Điều 30, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
1.2. Về xác định đương sự trong vụ án: Ngày 30/3/2024, Công ty T1 có đơn khởi kiện về việc Tranh chấp bảo hiểm cháy, nổ mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt đối với MIC để đòi bồi thường bảo hiểm do vậy căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 13 Luật Doanh Nghiệp; Điều 68, Điều 69 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định Công ty T1 là doanh nghiệp tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và MIC là doanh nghiệp tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự không đề nghị gì về việc đưa thêm người vào tham gia tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có xảy ra tranh chấp thì dành quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
1.3. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 05/10/2021, Công ty T1 và MIC ký hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 và ngày 05/10/2021 MIC cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cháy nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 cho Công ty T1. Ngày 23/11/2022, Công ty T1 và MIC đã có biên bản làm việc về việc giải quyết đơn đề nghị Công ty T1 về
6
việc bồi thường bảo hiểm trong vụ cháy xảy ra ngày 21/10/2021 tại nhà xưởng sản xuất của Công ty T1. Ngày 30/3/2024, Công ty T1 khởi kiện đối với MIC về yêu cầu đòi bồi thường bảo hiểm. Theo quy định tại Điều 30 luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là 03 năm kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp” do vậy vụ án còn thời hiệu khởi kiện.
1.4.Về việc Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa: Ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội có công văn số 331/CV-VKS về việc vụ án trên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải cử Kiểm sát viên tham gia phiên tòa quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án không có sự tham gia của Kiểm sát viên.
1.5. Về các vấn đề khác: Ngày 24/4/2024, Tòa án quận Đ thụ lý và giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty T1. Quá trình giải quyết và tại phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, phía Bảo Hiểm MIC không có yêu cầu phản tố do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2] Về nội dung:
2.1. Về hiệu lực của hợp đồng: Ngày 05/10/2021, Công ty T1 và MIC ký hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04. Công ty T1 đã thanh toán đầy đủ và đúng hạn phí bảo hiểm theo quy định tại Hợp đồng. MIC cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm cháy nổ bắt buộc số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 cho Công ty T1 đối với tài sản của bên mua bảo hiểm là máy móc, thiết bị theo danh mục đính kèm, theo quy tắc bảo hiểm và các điều khoản bổ sung quy định tại Điều 3 Hợp đồng bảo hiểm cho Công ty T1 với các nội dung bao gồm: Tài sản được bảo hiểm: là máy móc, và hàng lưu kho theo (danh sách đính kèm); địa điểm bảo hiểm: Cụm C xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội; thời hạn bảo hiểm: 12 tháng kể từ 16h00 ngày 05/10/2021 đến 16h 00 ngày 05/10/2022; điều kiện bảo hiểm: “Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc” ban hành theo Nghị định 23/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ về việc hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Quy tắc bảo hiểm hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt – phần thiệt hại vật chất ban hành kèm theo Quyết định số 1182/2018/QĐ-MIC của MIC ngày 07/5/2018; điều khoản loại trừ theo quy tắc bảo hiểm và Hợp đồng số 11297/21/HD-TS.1.1/040 - KDBH04; số tiền bảo hiểm: 24.615.510.682VNĐ (thể hiện: máy móc: 12.567.474.476VNĐ và nguyên vật liệu hàng hóa: 12.047.552.986VNĐ theo Danh mục tài sản được bảo hiểm là bộ phận công thể tách rời của Hợp đồng số 11297/21/HD-TS.1.1/040 – KDBH04); mức khấu trừ 15% giá trị tổn thất, tối thiểu 20.000.000VNĐ/mỗi vụ tổn thất; phí bảo hiểm 54.154.124VNĐ (đã bao gồm 10%VAT); thời hạn thanh toán như trên hợp đồng số 11207/21/HĐ-TS.1.1/040 KDBH04. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận về giám định tổn thất và bồi thường, quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng. Việc ký kết hợp đồng giữa các bên là tự nguyện và phù hợp với các Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
2.2. Về sự kiện xảy ra: Công ty T1 và MIC đều xác nhận ngày 21/10/2021 tại xưởng gỗ của Công ty T1 có địa chỉ Lô B, khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội đã bị cháy nổ và toàn bộ hàng hóa, tài sản, trang thiết bị máy móc của
7
Công ty T1 bị cháy rụi hoàn toàn. Sự việc cháy nổ đã được Công an huyện P lập hồ sơ giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Thông báo số 119TB-CSĐT ngày 05/6/2022 kết luận giám định nguyên nhân cháy: “Do chập mạch điện trên đường dây dẫn điện làm cháy vỏ cách điện, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Thành phố Hà Nội ban hành Thông báo số 67/TB-CSDT(ĐTTH) ngày 28/7/2023 về việc không khởi tố vụ án hình sự về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” quy định tại Điều 313 Bộ luật Hình sự.
Sau khi xảy ra sự cố cháy nhà xưởng, Công ty T1 cùng MIC đã thống nhất cử Công ty CP G1 (Công ty N) là tổ chức giám định độc lập để xác định nguyên nhân, mức độ tổn thất làm cơ sở cho việc bồi thường.
Xét nội dung sự kiện xảy ra đã được các bên đương sự thừa nhận nên không cần phải chứng minh theo quy định Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
2.3: Xét yêu cầu đòi bồi thường bảo hiểm của Công ty T1: Tại đơn khởi kiện ngày 30/3/2024 Công ty T1 khởi kiện yêu cầu MIC bồi thường tiền bảo hiểm theo Hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 và Giấy chứng nhận bảo hiểm cháy nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/GCN-TS.1.1/040-KDBH04 với số tiền là: 23.288.213.828 VNĐ (Hai mươi ba tỷ hai trăm tám mươi tám triệu hai trăm mười ba ngàn tám trăm hai mươi tám đồng). Quá trình giải quyết, Công ty T1 nhiều lần thay đổi yêu cầu khởi kiện về số tiền bồi thường bảo hiểm với lý do mong muốn được hòa giải với MIC. Cho đến ngày Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải do MIC vắng mặt không có lý do nên Công ty T1 đề nghị Tòa án xem xét kết quả đánh giá bổ sung điều chỉnh tổn thất do Công ty N lập ngày 28/8/2024 và yêu cầu MIC bồi thường 100% giá trị thiệt hại là: 16.070.886.254 VND (Mười sáu tỷ không trăm bảy mươi triệu tám trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm năm mươi bốn đồng)
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 22/10/2021, 24/10/2021 và ngày 01/11/2021 giám định viên của Công ty N có mặt tại hiện trường nhà xưởng của Công ty T1 tại khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội để tiến hành giám định tổn thất tài sản xảy ra ngày 21/10/2021 và có báo cáo giám định số 21310578/TSKT ngày 03/11/2021. Công ty N căn cứ vào biên bản kiểm tra PCCC.CNCH của Công an huyện P, Công an Thành phố H đối với Công ty T1 ngày 27/03/2021 (tài liệu do MIC cung cấp tới Công ty N dưới dạng bản mềm) xác định Công ty T1 đã vi phạm các quy định về PCCC và không tuân thủ theo các hướng dẫn của Cơ quan Công an PCCC việc vi phạm của Công ty T1 đã được cơ quan quản lý cảnh báo, khuyến nghị bằng văn bản và cho rằng MIC có thể từ chối trách nhiệm đối với tổn thất, thiệt hại trong vụ việc này đồng thời ghi nhận tổn thất tạm tính là 10.684.055.310 VNĐ bao gồm: máy móc thiết bị: 6.546.643.562 VNĐ hàng hóa: 6.411.032.416 VNĐ, giá trị thu hồi: 388,199.243VNĐ đồng, mức khấu trừ: 1.885.421.525VNĐ. Ngày 01/7/2024 Tòa án nhận được văn bản trả lời của Công ty N về thông tin làm rõ thêm cơ sở tính toán của Công ty N về báo cáo thẩm định trên.
Ngày 26/10/2022, MIC ban hành Công văn số 799/2022/MIC –GDBT –TSKT
8
thông báo về việc MIC không có trách nhiệm bồi thường bảo hiểm tổn thất do cháy xảy ra ngày 21/10/2021 của Công ty T1 tại cụm C, huyện P, Thành phố Hà Nội.
Theo Thông báo số 3772/TB - TA ngày 22/7/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, phía Công ty N có công văn số 376.08/24 ngày 28/8/2024 tính toán điều chỉnh tổn thất là 15.364.837.378VNĐ bao gồm: máy móc thiết bị: 6.546.643.562VNĐ hàng hóa: 11.917.834.849VNĐ, giá trị thu hồi: 388.199.243VNĐ, mức khấu trừ: 2.711.441.890VNĐ.
Sự việc xảy ra ngoài ý muốn của hai bên tuy nhiên theo Thông báo số 67/TB-CSĐT(ĐTTH) ngày 28/7/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P về việc không khởi tố vụ án hình sự thể hiện rõ Hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 là hợp đồng tái ký liên tục giữa hai bên từ năm 2019, 2020 và 2021. Tại các thời điểm ký kết hợp đồng, phía MIC đã cử các cán bộ chuyên môn nghiệp vụ tiến hành khảo sát đánh giá đối tượng bảo hiểm trước khi ký hợp đồng bảo hiểm và trong thời hạn bảo hiểm và tất yếu MIC biết và phải biết được tại toàn bộ khu vực công nghiệp không chỉ riêng Công ty T1 đều không tuân thủ đúng quy định về phòng cháy chữa cháy. Quá trình giải quyết tại Tòa, MIC không cung cấp được các tài liệu chứng cứ, chứng minh về việc yêu cầu Công ty T1 cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu Công ty T1 áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất trong thời gian bảo hiểm và có thể có các văn bản khác như cân nhắc việc từ chối bán bảo hiểm cho Công ty T1 khi vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy. Bản thân MIC thừa nhận với Công an huyện P về việc đã nhận được biên bản kiểm tra phòng cháy, chữa cháy lập ngày 27/3/2021 của Đội cảnh sát PCCC & CCNH công an huyện P. Như vậy xác định MIC biết được Công ty T1 không đáp ứng đầy đủ các biện pháp phòng cháy chữa cháy nhưng vẫn cố ý ký kết hợp đồng bảo hiểm. Quá trình thực hiện hợp đồng, MIC không thực hiện đúng các điều khoản được quy định tại các Điều 9.1,2, Điều 9.1.3 và Điều 9.1.4 của Hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 và Điều 50 Luật kinh doanh bảo hiểm. MIC cho rằng Công ty T1 hoạt động bình thường nên liên tiếp ký hợp đồng bảo hiểm là chấp nhận chịu rủi ro cùng với Công ty T1 và sự việc xảy ra cháy ngày 21/10/2021 tại khu công nghiệp L, xã L, huyện P, Thành phố Hà Nội là thời gian trong thời hạn bảo hiểm của MIC. Việc MIC từ chối bồi thường bảo hiểm cho Công ty T1 với các lý do: Công ty T1 vi phạm điều khoản cam kết đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy quy định trong Điều khoản cam kết số 3.2.6 Hợp đồng bảo hiểm đã ký kết là né tránh trách nhiệm.
Căn cứ vào kết quả thẩm định tổn thất của Công ty N lập ngày 28/8/2024 thể hiện giá trị tổn thất, thiệt hại là: 18.464.478.411VNĐ bao gồm: máy móc thiết bị: 6.546.643.562VNĐ hàng hóa: 11.917.834.849VNĐ. Công ty N ban hành công văn số 597.10/24 - CV giải thích các hạng mục có giá trị 706.048.876VNĐ do Công ty T1 chưa chứng minh được tờ khai hải quan hay nhà sản xuất có thuộc tài sản được bảo hiểm hay không tuy nhiên theo mô tả chất liệu của Công ty N đều là tấm nhựa được làm từ nhựa PoLyme là dạng sản phẩm từ Plastic thuộc ngành nghề kinh doanh của Công ty T1 và cũng thuộc trường hợp được bảo hiểm theo quy định tại điểm 2.3 Điều 32 quy định về đối tượng bảo hiểm tại hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ
9
bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 do vậy số tiền bồi thường được tính cụ thể: 19.170.527.287 VNĐ bao gồm: máy móc thiết bị: 6.546.643.562VNĐ; hàng hóa: 12.623.88.3725VNĐ; Mức khấu trừ 15%= 2.875.579.093 VNĐ. Giá trị còn lại 16.294.948.194VNĐ (Mười sáu tỷ hai trăm chín mươi tư triệu chín trăm bốn mươi tám ngàn một trăm chín mươi tư đồng). Do MIC không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc MIC đã thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc mở rộng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 ngày 05/10/2021 cũng như quy định tại Điều 50 Luật Kinh doanh Bảo hiểm do vậy Công ty T1 khởi kiện yêu cầu MIC phải bồi thường bảo hiểm là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
2.4. Về xác đinh lỗi của các bên:
Nhận thấy, Công ty T1 đã bị đình chỉ hoạt động do không đảm bảo PCCC, không chấp hành, không khắc phục mà vẫn cho nhà xưởng hoạt động, sản xuất bình thường dẫn đến sự việc chảy nổ là đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Nghị định 23/2018 ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, thuộc Quy tắc bảo hiểm theo thỏa thuận tại Điều 3.1.1 Hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 9 của Hợp đồng bảo hiểm đã ký, MIC có nghĩa vụ đánh giá rủi ro được bảo hiểm và tư vấn cho Công ty T1 các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất. Theo điểm a khoản 3 Điều 3 Nghị định 23/2018 ngày 23/02/2018 của Chính phủ về quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc quy định:
“Điều 3: Nguyên tắc tham gia bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc:
3.Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền từ chối bán bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trong các trường hợp sau đây:
a)Cơ sở chưa được nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy theo quy định pháp luật....”
Do đó, MIC có nghĩa vụ phải kiểm tra điều kiện phòng cháy, chữa cháy của đối tượng bảo hiểm.
Hợp đồng bảo hiểm cháy nổ bắt buộc mở rộng hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt số 11297/21/HD-TS.1.1/040-KDBH04 là hợp đồng tái ký liên tục giữa hai bên từ năm 2019 đến năm 2021. MIC cho rằng Công ty T1 không cung cấp trung thực về thông tin Công ty T1 bị đình chỉ hoạt động do không đảm bảo phòng cháy chữa cháy nhưng phía MIC cũng đã tiến hành khảo sát thực tế đối tượng bảo hiểm, không lập hồ sơ phản ánh chi tiết, không thu thập các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho MIC khi ký kết hợp đồng bảo hiểm do vậy MIC phải chịu hậu quả do việc làm cẩu thả, không có tính chuyên nghiệp của MIC trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty T1. Việc ký kết hợp đồng bảo hiểm cháy, nổ không đúng quy định dẫn đến việc Công ty T1 tin tưởng khi hàng hóa và máy móc cho nhà xưởng đã được MIC bảo hiểm nên không tích cực trong việc khắc phục những thiết sót về PCCC mà Cơ quan công an huyện P đã kiến nghị do vậy lỗi của MIC được xác định nhiều hơn Công ty ALD theo tỷ lệ lỗi Công ty T1 là 30% và lỗi MIC là 70%.
Từ những căn cứ phân tích nêu trên có đủ căn cứ buộc MIC phải bồi thường cho Công ty T1 số tiền: 16.294.948.194 VNÐ x 70% = 11.406.463.735VNĐ (Mười một tỷ bốn trăm linh sáu triệu bốn trăm sáu mươi ba ngàn bảy trăm ba mươi lăm đồng). Công ty T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho MIC giá trị thu hồi:
10
388.199.243VNÐ (Ba trăm tám mươi tám triệu một trăm chín mươi chín ngàn hai trăm bốn mươi ba đồng).
2.5. Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả của Công ty Tl: Xét yêu cầu trả lãi của Công ty T1 nhận thấy: Theo quy định tại Điều 306 luật thương mại 2005 về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán: “Trong trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tướng ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” và hướng dẫn tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ_HĐTP TANDTC ngày 11/01/2019 về xác định lãi suất trung bình quy định tại điều 306 của luật Thương mại năm 2005: “Trường hợp hợp đồng thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 306 của luật Thương mại năm 2005 thì xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) Ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N2, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N3 ...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (tại thời điểm xét xử) để quy định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Hội đồng xét xử áp dụng lãi suất quá hạn trung bình của lãi suất cho vay dài hạn tại ba Ngân hàng thương mại cổ phần N2, Ngân hàng thương mại cổ phần C và Ngân hàng N3 là: 9%/ năm x 150% là: 13,5%/năm đối với số tiền bồi thường 11.406.463.735VNĐ mà MIC phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T1 được tính từ ngày 26/10/2022 cho đến ngày 03/12/2024 (ngày xét xử) là 770 ngày. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự, Điều 306 Luật thương mại năm 2005 nên chấp nhận. Do vậy buộc MIC phải có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T1 số tiền gốc và lãi chậm trả là: 11.406.463.735 VNĐ + 3.248.498.370VNĐ = 14.654.962.106 VNĐ (Mười bốn tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn một trăm linh sáu đồng) và thanh toán một lần.
[4]. Tòa án kiến nghị cơ quan chủ quản MIC, cơ quan pháp luật xem xét làm rõ trách nhiệm bộ phận, cá nhân trong việc thực hiện lập hồ sơ bán bảo hiểm máy móc, hàng hóa cho Công ty T1 không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng thất thoát đến nguồn tài chính của MIC.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm về phần không được HĐXX chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được HĐXX chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; Điều 35, Điều 39, Điều 220, Điều 271, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.;
- Các Điều 12, 17, 18, 29, 46, 47 và Điều 54 Luật kinh doanh bảo hiểm;
11
- Các Điều 274, 275, 276, 278, 280, 351, 357 Bộ luật dân sự.
- Điều 306 Luật Thương mại;
- Luật Phòng cháy và chữa cháy; Luật sửa đổi, bổ sung Luật phòng cháy và chữa cháy;- Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị định 23/2018/NĐ - CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng bảo hiểm của Công ty TNHH T1 đối với Tổng Công ty Cổ phần B.
2. Buộc Tổng Công ty Cổ phần B (MIC) phải bồi thường số tiền bảo hiểm cho Công ty TNHH T1 là 14.654.962.106VNĐ (Mười bốn tỷ sáu trăm năm mươi tư triệu chín trăm sáu mươi hai ngàn một trăm linh sáu đồng) trong đó nợ gốc là 11.406.463.735 VNĐ, nợ lãi là: 3.248.498.370VNĐ và thanh toán một lần. Công ty T1 phải có trách nhiệm thanh toán lại cho MIC giá trị thu hồi: 388.199.243VNĐ (Ba trăm tám mươi tám triệu một trăm chín mươi chín ngàn hai trăm bốn mươi ba đồng). Đối trừ nghĩa vụ buộc MIC phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền: 14.266.762.863VNĐ (Mười bốn tỷ hai trăm sáu mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn tám trăm sáu mươi ba đồng)
Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu người bị thi hành án chưa thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì người bị thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự quy định tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án xong.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí:
- Công ty TNHH T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là : 113.935.860VNĐ (Một trăm mười ba triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí: 65.644.107VNĐ (Sáu mươi lăm triệu, sáu trăm bốn mươi tư nghìn, một trăm linh bảy đồng) do bà Lê Thị Hương G đã nộp cho Công ty TNHH T1 theo biên lai số thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0064355 ngày của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa. Công ty TNHH T1 phải nộp tiếp số tiền được làm tròn là 48.291.000VNĐ (Bốn mươi tám triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn đồng).
- Tổng Công ty Cổ phần B (MIC) phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm được làm tròn là: 122.654.000VNĐ (Một trăm hai mươi hai triệu sáu trăm năm mươi tư ngàn đồng).
12
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - Tòa án NDTP Hà Nội; - VKSND quận Đống Đa; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Vũ Thúy Hoa |
13
Bản án số 142/2024/KDTM- ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số bản án: 142/2024/KDTM- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
