TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST | Ngày: 30 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Nghĩa
Ông Nguyễn Công Khánh
Ông Hoàng Minh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn B - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 25 và 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 97/2024/HSST-QĐ ngày 04/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Lê Thành T. Sinh ngày 03 tháng 3 năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam; Căn cước công dân số [...] do Cục C2 về TTXH cấp ngày 28/6/2021; Nơi thường trú: G7, tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: G7, tổ D, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: kinh - Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Tiền án, tiền sự: không; Họ tên cha: Lê Thanh H, sinh năm 1956; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1956; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình; có vợ tên Nông Thị L, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2022; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 18/9/2023 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 45/LB-CSHS-Đ4 ngày 28/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thành T: Ông Đào Viện T1 – Luật sư Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
2. Bị cáo Dương Hoàng A. Sinh ngày 26 tháng 01 năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam; Chứng minh nhân dân số [...] do Công an tỉnh Đ cấp ngày 13/01/2017; Nơi thường trú: 258/11, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: 2, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: kinh - Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: không; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/7/2023, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, Đồng Nai xử phạt 04 (bốn) năm 06 tháng tù, về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2023; Họ tên cha: Dương Hồng S, sinh năm 1953; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1960; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ tên Lê Thị Hồng D, sinh năm 1997 (đã ly hôn) và chưa có con; Bị tạm giam theo Lệnh tạm giam số 405/CSHS-Đ1 ngày 04/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Dương Hoàng A: Ông Lê Văn B1 – Luật sư Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
3. Bị cáo Ung Thế T2. Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1993 tại tỉnh Bình Dương; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam; Căn cước công dân số [...] do Cục C2 về TTXH cấp ngày 31/8/2021; Nơi thường trú: B, tổ F, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: B, tổ F, khu phố Đ, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: kinh - Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: lao động tư do; Tiền án, tiền sự: không; Họ tên cha: Ung Văn C1, sinh năm 1971; Họ tên mẹ: Trần Thị Kim D1, sinh năm 1975; Gia đình có 02 anh em, bị can là con đầu trong gia đình và chưa có vợ, con; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/9/2023 theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 46/LB-CSHS-Đ4 ngày 28/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
4. Bị cáo Mạnh Trọng N. Sinh ngày 19 tháng 3 năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam; Căn cước công dân số [...] do Cục C2 về TTXH cấp ngày 22/8/2022; Nơi thường trú: E, tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: E, tổ B, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: kinh - Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: lao động tư do; Tiền án, tiền sự: không; Họ tên cha: Mạnh Trọng N1, sinh năm 1963; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình; có vợ tên Bùi Thị Ngọc Â, sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2019; Bị can đang bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo ra đầu thú – có mặt).
- Bị hại: Công ty TNHH S2. Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S, số F, đường L, P.B, Quận A, TP . Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim A1 – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng T4 – Nhân viên đối ngoại (Địa chỉ liên hệ: Lầu H Tòa nhà S, số A L, P.B, Quận A, TP . Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH S3. Địa chỉ: Tầng D, đường L, P.N, Quận B, TP . Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T5 – Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hoàng T4 – Nhân viên đối ngoại (Địa chỉ liên hệ: Lầu H Tòa nhà S, số A L, P.B, Quận A, TP . Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH S4 (Công ty S4), có trụ sở tại tầng 17, tòa nhà S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kinh doanh lĩnh vực vận tải giao hàng cho Công ty TNHH S3 (Công ty S3) và các Công ty khác có nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Công ty S4 có kho chứa hàng tại số B, đường N, phường H, thành phố B tỉnh Đồng Nai (kho H) để tập kết, phân loại hàng hóa trước khi giao đến cho khách hàng.
Quy trình hoạt động tại kho Hóa An như sau: nhân viên phân loại hàng tiếp nhận các gói hàng (đã được đóng gói, dán mã vạch niêm phong), tiến hành phân loại theo từng khu vực đưa cho shipper giao đến tay của các khách hàng. Tùy theo từng hình thức thanh toán đã đăng ký với Công ty S3, mà khi nhận hàng từ shipper (người giao hàng) thì khách hàng có thể thanh toán toàn bộ số tiền đơn hàng hoặc phần còn lại của đơn hàng (một phần đã thanh toán online cho Công ty S3 trước đây). Sau đó, người giao hàng (shipper) đưa tiền khách thanh toán về nộp lại ở kho H. Nếu người giao hàng (shipper) không giao hàng được cho khách với nhiều lý do: khách đi vắng, khách từ chối nhận hàng, khách hẹn nhận hàng trễ...thì shipper đưa hàng về nộp lại ở kho Hóa An lưu giữ ở dạng hàng tồn.
Từ năm 2021 đến tháng 6/2022, tại kho H các đối tượng gồm: Lê Thành T là nhân viên phân loại, điều phối hàng cho nhân viên giao hàng (Shipper) vận chuyển hàng đến cho khách đặt hàng; Dương Hoàng A, Ung Thế T2, Mạnh Trọng Nghĩa là nhân viên đi giao hàng.
Trong thời gian từ ngày 31/5/2022 đến ngày 04/6/2022, Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2 và Mạnh Trọng N đã thực hiện hành vi tạo tài khoản ảo (thông tin người nhận hàng không có thật) để đặt hàng là điện thoại di động iphone 13 Promax trên sàn giao dịch điện tử S, mục đích để hàng được vận chuyển về kho hàng Hoá An của Công ty S4. Khi kiện hàng được vận chuyển về đến kho hàng Hoá An thì Lê Thành T là người điều phối giao các kiện hàng mà các đối tượng đã đặt từ trước để cho Hoàng A, T2 và N đánh tráo hàng để chiếm đoạt điện thoại iphone 13 Promax, thay thế bằng các vật dụng có trọng lượng, kích thước giống bên trong kiện hàng thật, trả lại nhân viên kho với lý do không liên lạc được với khách, khách hẹn lại ngày nhận hàng... để hàng dưới dạng tồn kho. Sau khi lấy được điện thoại di động trong các đơn hàng Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2 và Mạnh Trọng N đã bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Bằng thủ đoạn trên, Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2 và Mạnh Trọng N đã có hành vi chiếm đoạt 38 kiện hàng là 38 điện thoại di động Iphone 13 Promax, cụ thể:
Từ ngày 31/5/2022 đến ngày 03/6/2022, Lê Thành T đã tạo tài khoản ảo (thông tin người nhận hàng không có thật) để đặt hàng và chiếm đoạt 13 kiện hàng là 13 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 372.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng).
Từ ngày 31/5/2022 đến ngày 04/6/2022, Dương Hoàng A đã tạo tài khoản ảo (thông tin người nhận hàng không có thật) đặt hàng và chiếm đoạt 17 kiện hàng là 17 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng).
Ngày 01/6/2022, Ung Thế T2 đã tạo tài khoản ảo (thông tin người nhận hàng không có thật) đặt hàng và chiếm đoạt 06 kiện hàng là 06 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 171.540.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ngày 01/6/2022, Mạnh Trọng N đã tạo tài khoản ảo (không có khách hàng thật) đặt hàng và chiếm đoạt 02 kiện hàng là 02 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 57.180.000 đ (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Sau khi chiếm đoạt được các kiện hàng trên Lê Thành T đã bán điện thoại di động cho bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983 là chủ cửa hàng điện thoại “Toàn Cao” tại số B P, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Dương Hoàng A đã bán điện thoại di động mà Hoàng A, T2 và N chiếm đoạt được cho Nguyễn Hiếu Đ, sinh năm 1999, cư trú tại 233/5/1 Quốc lộ A cũ, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến ngày 14/6/2022, Công ty S5 kiểm tra phát hiện 38 kiện hàng bị đánh tráo chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động iphone 13 ProMax nên làm đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Công ty TNHH S4 đã bồi thường số tiền 1.088.420.000 đ (Một tỷ không trăm tám mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng) cho Công ty TNHH S3.
2. Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P2 ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đổng Nai nghị truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai để xét xử đối với các bị cáo:
- Lê Thành T, Dương Hoàng A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS;
- Ưng Thế T6, Mạch Trọng N2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS;
3. Tại phiên tòa sơ thẩm,
3.1 Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt:
- Bị cáo Lê Thành T mức án từ 13 (mười ba) đến 15 (mười lăm) năm tù về tội về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS;
- Bị cáo Dương Hoàng A mức án từ 13 (mười ba) đến 15 (mười lăm) năm tù về tội về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS;
- Bị cáo Ưng Thế T6 mức án từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS;
- Bị cáo Mạnh Trọng N mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS;
3.2 Vị luật sư bào chữa và bị cáo Lê Thành T thừa nhận có hành vi chiếm đoạt 13 (mười ba) điện thoại tổng trị giá 372.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng), đã bồi thường được 10.000.000đ (mười triệu đồng) nhưng không thừa nhận việc quy kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng: “Do T là nhân viên điều phối, biết việc các bị cáo Hoàng A, T6 và N tạo tài khoản ảo để đặt hàng rồi chiếm đoạt, khi hàng về đến kho H bị cáo T là người đã giao hàng cho các bị cáo khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt, dù bị cáo T không được hưởng lợi gì nhưng hành vi trên của T đã giúp sức cho các bị can khác trong việc chiếm đoạt tài sản. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm đối với tổng thiệt hại là 1.088.420.000 đồng do T và các bị can khác đã gây ra trong vụ án”;
3.3 Vị luật sư bào chữa và bị cáo Dương Hoàng A thừa nhận hành vi chiếm đoạt 17 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng), chưa bồi thường nhưng không thừa nhận việc quy kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng: “Ngoài ra Hoàng A có hành vi bán giúp các tài sản do T6 và N chiếm đoạt nên Hoàng A phải chịu trách nhiệm về tổng trị thiệt hại là 716.250.000 đ (Bảy trăm mười sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do A và T6, N gây ra”.
3.4 Bị cáo Ung Thế T2 thừa nhận hành vi đã chiếm đoạt 06 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 171.540.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng), đã bồi thường toàn bộ thiệt hại;
3.5 Bị cáo Mạnh Trọng N thừa nhận đã chiếm đoạt 02 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 57.180.000 đ (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng), đã bồi thường được 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng);
3.6 Bị hại không đồng ý với lời trình bày của bị cáo Lê Thành T vì bản thân bị cáo là người được phân công nhiệm vụ điều phối
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Từ ngày 31/5/2022 đến ngày 04/6/2022, Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2 và Mạnh Trọng N đã có hành vi sử dụng tài khoản ảo đặt mua 38 điện thoại di động Iphone 13 Promax trên sàn giao dịch điện tử Shopee để chuyển hàng về kho hàng Hoá An của Công ty S4. Sau khi hàng về đến kho hàng các bị can đã chiếm đoạt 38 điện thoại bằng hình thức đánh tráo hàng bằng các vật dụng có kích thước và trọng lượng tương tự rồi mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của các bị cáo làm thiệt hại của Công ty TNHH S3 số tiền 1.088.420.000 đ (Một tỷ không trăm tám mươi tám triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Tại phiên tòa các bị cáo xác định:
- Bị cáo Lê Thành T thừa nhận có hành vi chiếm đoạt 13 (mười ba) điện thoại tổng trị giá 372.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng), nhưng không thừa nhận việc quy kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng: Do T là nhân viên điều phối, biết việc các bị cáo Hoàng A, T2 và N tạo tài khoản ảo để đặt hàng rồi chiếm đoạt, khi hàng về đến kho H bị cáo T là người đã giao hàng cho các bị cáo khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt;
- Bị cáo Dương Hoàng A thừa nhận hành vi chiếm đoạt 17 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng không thừa nhận việc quy kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng: Ngoài ra Hoàng A có hành vi bán giúp các tài sản do T2 và N chiếm đoạt nên Hoàng A phải chịu trách nhiệm về tổng trị thiệt hại là 716.250.000 đ (Bảy trăm mười sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do A và T2, N gây ra;
- Bị cáo Ung Thế T2 thừa nhận hành vi đã chiếm đoạt 06 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 171.540.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng);
- Bị cáo Mạnh Trọng N thừa nhận đã chiếm đoạt 02 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 57.180.000 đ (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
[3] Đối với các nội dung, các bị cáo không thừa nhận:
- Hội đồng xét xử đã có quyết định điều tra bổ sung số 21/2024/HSST-QĐ ngày 30/5/2024 và đến ngày 10/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai có văn bản số 772/VKS-P2 thể hiện quan điểm giữ nguyên quan điểm truy tố;
- Hội đồng xét xử trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ thể hiện tại hồ sơ cho thấy:
Xác định 38 bưu kiện giá trị cao (Iphone 13 promax) là do bị cáo Lê Thành T trực tiếp bàn giao cho các bưu tá giao hàng hay nói cách khác, bị cáo Lê Thành T với trách nhiệm là nhân viên điều phối và sau khi được các bị cáo Dương Hoàng A, Ung Thế T2, Mạnh Trọng N thông báo bưu kiện của ai thì bị cáo giao cho người đó thực hiện hành vi;
Tuy bị cáo Lê Thành T không thừa nhận nhưng qua lời khai của các bị cáo Dương Hoàng A, Dương Thế T7 tại Cơ quan điều tra, khi tiến hành đối chất và tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thành T biết việc các đồng phạm tạo tài khoản ảo nên đã tạo điều kiện, giúp sức cho các bị cáo thực hiện hành vi, tuy không hưởng lợi nhưng nên phải chịu trách nhiệm theo quy định;
Bị cáo Dương Hoàng A được Ung THế Tân, Mạnh Trọng N thông báo việc tạo tài khoản ảo để chiếm đoạt tài sản và khi có tài sản thì tiêu thụ nên cũng phải chịu trách nhiệm với vai trò giúp sức hai bị cáo này khi thực hiện hành vi;
[4] Về tội danh:
Hành vi phạm tội nêu trên của Lê Thành T và Dương Hoàng A đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn;
Hành vi phạm tội nêu trên của Dương Thanh T8 và Mạnh Trọng N đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã viện dẫn;
[4] Về tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Trong đó, xác định:
[4.1] Bị cáo Lê Thành T là người giữ vai trò chính:
- Bị cáo Lê Thành T có hành vi chiếm đoạt 13 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 372.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng). Mặt khác, do Lê Thành T là nhân viên điều phối, biết việc các bị cáo Hoàng A, T8 và N tạo tài khoản ảo để đặt hàng rồi chiếm đoạt, khi hàng về đến kho Hóa A2 bị can T là người đã giao hàng cho các bị can khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt. Tuy bị cáo T không được hưởng lợi gì nhưng hành vi trên của T đã giúp sức cho các bị can khác trong việc chiếm đoạt tài sản. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm đối với tổng thiệt hại là 1.088.420.000 đồng do T và các bị cáo khác đã gây ra trong vụ án.
- Về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên (thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS);
- Về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017); đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc khoản 2 Điều 51 BLHS;
[4.2] Bị cáo Dương Hoàng A:
- Bị cáo Dương Hoàng A đã chiếm đoạt 17 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng), ngoài ra Hoàng A có hành vi bán giúp các tài sản do T8 và N chiếm đoạt nên Dương Hoàng A phải chịu trách nhiệm về tổng trị thiệt hại là 716.250.000 đ (Bảy trăm mười sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) do A và T8, N gây ra.
- Về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên (thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS);
- Về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo thuộc điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS (Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017); hoàn cảnh gia đình khó khăn – có xác nhận của địa phương (điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS);
- Ngoài ra, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt trong vụ án này và tổng hợp với hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 384/2023/HSST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành chung theo quy định tại các Điều 55, 56 BLHS;
[4.3] Bị cáo Ung Thế T2:
Bị cáo Ung Thế T2 đã chiếm đoạt 06 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 171.540.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng);
- Về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên (thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS);
- Về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, mẹ bị cáo đã bồi thường số tiền 171.856.000d và được bị hại có Đơn xin bãi nại; hoàn gia đình bị cáo khó khăn (thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS);
[4.4] Bị cáo Mạnh Trọng N:
Bị cáo Mạnh Trọng N đã chiếm đoạt 02 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 57.180.000 đ (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
- Về tình tiết tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên (thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS);
- Về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ra đầu thú; đã bồi thường số tiền50.000.000đ và được bị hại làm Đơn bãi nại; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn (có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự) (thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS);
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử trên cơ sở phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để quyết định hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại Điều 58 (Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm)
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự buộc các bị cáo Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2 và Mạnh Trọng N bồi thường giá trị tài sản đã chiếm đoạt cho Công ty TNHH S4 theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
- Bị cáo Lê Thành T có hành vi chiếm đoạt 13 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 372.000.000 đ (Ba trăm bảy mươi hai triệu đồng), đã bồi thường được 10.000.0000đ (mười triệu đồng), còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 362.000.000đ (ba trăm sáu mươi hai triệu đồng);
- Bị cáo Dương Hoàng A đã chiếm đoạt 17 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng), chưa bồi thường nên phải bồi thường cho bị hại số tiền 487.530.000 đ(Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng);
- Bị cáo Ung Thế T2 đã chiếm đoạt 06 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 171.540.000 đ (Một trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) – đã bồi thường xong và được bị hại có Đơn xin bãi nại;
- Bị cáo Mạnh Trọng N đã chiếm đoạt 02 điện thoại di động Iphone 13 Promax, tổng trị giá 57.180.000 đ (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) – đã bồi thường 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), còn phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 7.180.000 đ (Bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, các vị luật sư bào chữa cho các bị cáo và những người tham gia tố tụng đã được Hội đồng xét xử thể hiện quan điểm như trên đã phân tích và được Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về hình phạt:
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: bị cáo Lê Thành T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2023.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 56; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: bị cáo Dương Hoàng A 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án này với với hình phạt 04 (bốn) năm 06 (sáu) sáu tháng tù về tội “Tham ô tài sản” tại bản án số 348/2023/HSST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân TP . Biên Hòa, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: bị cáo Ung Thế T2 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2023
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: bị cáo Mạch Trọng N2 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thời hạn tù tính từ bị cáo vào cơ sở giam giữ để chấp hành án.
[2] Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự, ghi nhận và buộc bị cáo Nguyễn Tiến S1 phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại như sau:
- Bị cáo Lê Thành T bồi thường cho bị hại số tiền 362.000.000 đ (Ba trăm sáu mươi hai triệu đồng);
- Bị cáo Dương Hoàng A bồi thường cho bị hại số tiền 487.530.000 đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn đồng),
- Bị cáo Mạnh Trọng N bồi thường cho bị hại số tiền 7.180.000 đ (Bảy triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[5.1] Án hình sự sơ thẩm:
Các bị cáo Lê Thành T, Dương Hoàng A, Ung Thế T2, Mạnh Trọng N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
[5.2] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị cáo Lê Thành T phải chịu 18.100.000đ (mười tám triệu một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
- Bị cáo Dương Hoàng A phải chịu 23.501.200đ (hai mươi ba triệu năm trăm lẽ một nghìn hai trăm đồng);
- Bị cáo Mạnh Trọng N phải chịu 359.000đ (ba trăm năm mươi chín nghìn đồng);
[6]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Phương Đông |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH S4 (Công ty S4), có trụ sở tại tầng 17, tòa nhà S, F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, kinh doanh lĩnh vực vận tải giao hàng cho Công ty TNHH S3 (Công ty S3) và các Công ty khác có nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Công ty S4 có kho chứa hàng tại số B, đường N, phường H, thành phố B tỉnh Đồng Nai (kho H) để tập kết, phân loại hàng hóa trước khi giao đến cho khách hàng. Quy trình hoạt động tại kho Hóa An như sau: nhân viên phân loại hàng tiếp nhận các gói hàng (đã được đóng gói, dán mã vạch niêm phong), tiến hành phân loại theo từng khu vực đưa cho shipper giao đến tay của các khách hàng. Tùy theo từng hình thức thanh toán đã đăng ký với Công ty S3, mà khi nhận hàng từ shipper (người giao hàng) thì khách hàng có thể thanh toán toàn bộ số tiền đơn hàng hoặc phần còn lại của đơn hàng (một phần đã thanh toán online cho Công ty S3 trước đây). Sau đó, người giao hàng (shipper) đưa tiền khách thanh toán về nộp lại ở kho H. Nếu người giao hàng (shipper) không giao hàng được cho khách với nhiều lý do: khách đi vắng, khách từ chối nhận hàng, khách hẹn nhận hàng trễ...thì shipper đưa hàng về nộp lại ở kho Hóa An lưu giữ ở dạng hàng tồn. Từ năm 2021 đến tháng 6/2022, tại kho H các đối tượng gồm: Lê Thành T là nhân viên phân loại, điều phối hàng cho nhân viên giao hàng (Shipper) vận chuyển hàng đến cho khách đặt hàng; Dương Hoàng A, Ung Thế T2, Mạnh Trọng Nghĩa là nhân viên đi giao hàng. Trong thời gian từ ngày 31/5/2022 đến ngày 04/6/2022, Lê Thành T, Dương Hoàng A
