Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HS-ST

Ngày: 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lan Chi

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Hảo Hoàn

Bà Bùi Thị Minh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận Cầu Giấy

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Tăng Ngọc Kim Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

TRẦN THỊ HOÃN - Sinh năm: 1980; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Địa chỉ thường trú: P311 G phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện tại: P1501-Nhà A, KĐT N, Tổ C phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Họ tên bố: Trần Trọng Đ; Họ tên mẹ: Phạm Thị H; D chỉ bản số 140 lập ngày 14/03/2024 tại Công an quận C, thành phố Hà Nội;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/03/2024 đến ngày 15/03/2024 về hành vi Trộm cắp tài sản. Hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 15/3/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).

Người bị hại: Anh Vũ Minh D1 – Sinh năm: 1995; Địa chỉ: P Tòa A, số C phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. (Xin vắng mặt tại phiên toà).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Mậu T – Sinh năm 1984; Địa chỉ thường trú: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị H1 làm giúp việc theo giờ cho công ty B, địa chỉ: Số C Khúc T, D, Cầu G, Hà Nội. Anh Vũ Minh D1 (sinh năm: 1995, HKTT: D, Cầu G, Hà Nội) và vợ là chị Nguyễn Ngọc M (sinh năm: 1995, HKTT: D, Cầu G, Hà Nội) cùng sinh sống với chị Nguyễn Thị Đào Q (em gái chị M, sinh năm: 2003, HKTT: H, V, Nghệ An) tại Phòng 2209 tòa A Chung cư S, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Tối ngày 19/02/2024, chị Q đăng tin trên ứng dụng BTASKEE thuê người giúp việc theo giờ ca từ 10 giờ đến 12 giờ ngày 01/3/2024 với giá 176.000 đồng, kèm số điện thoại 0364.716.xxx, địa chỉ dọn dẹp là Phòng 2209 tòa A Chung cư Sky Park R. Sau khi đọc thông tin, H1 đã đăng ký và được Công ty phân công đi làm ca trên. Khoảng 10 giờ ngày 01/3/2024, H1 đến Phòng 2209 tòa A Chung cư Sky Park R thì gặp chị Q và chị M. Tại đây, chị Q yêu cầu Hoãn dọn dẹp phòng khách, ban công, 02 phòng ngủ và 02 nhà vệ sinh của căn hộ.

Quá trình làm dọn nhà vệ sinh trong phòng ngủ của vợ chồng anh D1, H1 lấy đồ trên giá xuống để dọn thì phát hiện 01 chiếc nhẫn vàng (dạng nhẫn cưới) màu vàng, có đính 01 viên đá dạng trơn của anh D1 rơi xuống dưới sàn nhà vệ sinh. Thấy vậy, H1 đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc nhẫn trên. Sau khi quan sát thấy không có ai xung quanh, H1 cúi xuống nhặt chiếc nhẫn lên đeo vào ngón trỏ tay trái rồi tiếp tục lau dọn. Đến khoảng 12 giờ 15 cùng ngày, H1 dọn dẹp xong căn hộ và được chị Q chuyển khoản số tiền 180.000 đồng tiền công. Sau đó, H1 đi về và mang theo nhẫn về phòng trọ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh D1 về nhà phát hiện bị mất chiếc nhẫn. Ngoài ra, chị Q kiểm tra tài sản thì không thấy số tiền 2.500.000 đồng trong phong bì để trên giá sách cạnh cửa ra vào trong phòng ngủ của chị Q. Chị Q nghi ngờ Hoãn lấy trộm nên khoảng 23 giờ ngày 06/3/2024, chị Q nhắn tin với H1 xin chuộc lại nhẫn với giá 10 triệu đồng. Lúc này, H1 sợ hành vi trộm cắp bị phát hiện nên nói dối là đã nhờ người khác làm hộ ca ngày 01/3/2024 và hẹn sẽ chuộc lại nhẫn để trả lại cho anh D1. Đến ngày 09/3/2024, do muốn anh D1 chuộc lại nhẫn nên Hoãn nhắn tin cho chị Q thừa nhận việc đang cầm nhẫn và yêu cầu chị Q chuộc lại với số tiền 12 triệu đồng. Hai bên thống nhất hẹn gặp nhau tại quán C, địa chỉ số C T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Khoảng 14 giờ ngày 09/3/2024, H1 nói anh Nguyễn Mậu T (là bạn của H1, sinh năm 1984, HKTT: A, T, Bắc Ninh) về việc nhặt được 01 chiếc nhẫn vàng, giờ người mất chuộc nhẫn nên nhờ T đưa cho người mất và nhận tiền chuộc về hộ Hoãn thì anh T đồng ý. Tại quán C, anh T gặp chị Q và anh D1. Anh T cho anh D1 xem chiếc nhẫn vàng thì anh D1 xác nhận là chiếc nhẫn vàng bị mất nên đã gọi điện báo Công an phường D đưa anh T đến trụ sở Công an làm việc. Sau đó, H1 đến Công an phường D đầu thú.

Cơ quan điều tra thu giữ của anh T 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 và 01 chiếc nhẫn đeo tay hình trong, màu vàng gắn đá, kiểu nhẫn cưới, thu giữ của H1 01 điện thoại Iphone 6S màu trắng.

Ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã trưng cầu Viện Ngọc học và trang sức Dojilab Hà Nội giám định chiếc nhẫn kim loại màu vàng gắn đá. Theo phiếu kết quả thử nghiệm của Viện Ngọc học và trang sức D3 ngày 11/3/2024, kết luận: Nhẫn kim loại màu vàng gắn đá, có: Nguyên tố Vàng (A) hàm lượng 58,40%; Nguyên tố Bạc (A) hàm lượng 5,52%; Nguyên tố Đồng (Cu) hàm lượng 29,82%; Nguyên tố Kẽm (Z) hàm lượng 6,25%.

Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C đã kết luận: 01 (một) nhẫn (dạng nhẫn cưới) màu vàng, có đính 01 viên đá dạng trơn, đã qua sử dụng từ tháng 10/2023, giá trị 6.900.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, H1 khai nhận hành vi trộm cắp của mình như đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về xử lý vật chứng: Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả 01 (một) chiếc nhẫn (dạng nhẫn cưới) màu vàng, có đính 01 viên đá dạng trơn cho anh Vũ Minh D1.

Về dân sự: Anh D2 đã nhận lại chiếc nhẫn và không có ý kiến, yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Đối với số tiền 2.500.000 đồng trong phong bì để trên giá sách phòng chị Nguyễn Thị Đào Q, do chị Q không nhớ đã chi tiêu số tiền trên hay bị trộm cắp nên không có yêu cầu, đề nghị gì, H1 khai không trộm cắp số tiền trên nên không có căn cứ để xử lý đối với H1.

Đối với anh Nguyễn Mậu T được Trần Thị H1 nhờ đem chiếc nhẫn đưa cho chị Q để lấy tiền chuộc, anh T không biết chiếc nhẫn trên do H1 phạm tội mà có, không bàn bạc với H1 để trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 128/CT-VKSCG ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Thị H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Trần Thị H1 khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, tại Phòng 2209 Tòa A, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội, bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc nhẫn vàng giá trị 6.900.000 đồng của anh Vũ Minh D1. Tang vật đã được thu hồi và trả lại cho anh Vũ Minh D1.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Mậu T giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình điều tra, anh T xác định anh được Trần Thị H1 nhờ đem chiếc nhẫn đưa cho chị Q để lấy tiền chuộc, anh T không biết chiếc nhẫn trên do H1 phạm tội mà có, không bàn bạc với H1 để trộm cắp tài sản. Anh đề nghị được nhận lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 đã bị cơ quan điều tra tạm giữ vì đây là tài sản cá nhân của anh dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan đến vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy giữ quan điểm truy tố với Trần Thị H1 như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng; Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị H1 mức án từ 07 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Tang vật đã được thu hồi trao trả cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thị H1 có liên quan đến vụ án. Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 cho anh Nguyễn Mậu T vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của người liên quan, được chứng minh bằng vật chứng đã thu hồi trao trả cho người bị hại, Kết luận định giá tài sản số 94/KL-HĐĐGTS ngày 11/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, tại Phòng 2209 Tòa A, đường T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của gia đình bị hại, bị cáo đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc nhẫn vàng giá trị 6.900.000 đồng của anh Vũ Minh D1. Tang vật đã được thu hồi và trả lại cho anh Vũ Minh D1. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, vai trò của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm Luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của gia đình người bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Mặc dù tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị hại, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do lỗi cố ý. Do đó việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là cần thiết, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thị H1 không có tiền án, tiền sự; Không có tình tiết tăng nặng; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã có đơn xin đầu thú, Cơ quan điều tra đã lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 09/03/2024. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp không lớn; Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì về dân sự và có Đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Mặt khác, bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi hai con nhỏ còn trong độ tuổi đi học có hoàn cảnh khó khăn; Bị cáo và các con hiện đang ở cùng mẹ đẻ đã già yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo vì lòng tham nhất thời dẫn đến hành vi phạm tội. Do vậy, khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét nhân thân của bị cáo tốt, bị cáo có nơi cư trú ổn định, lý lịch rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được cải tạo bên ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và nguồn thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của Trần Thị H1 có liên quan đến vụ án.

Trả lại cho anh Nguyễn Mậu T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả 01 (một) chiếc nhẫn (dạng nhẫn cưới) màu vàng, có đính 01 viên đá dạng trơn, giá trị 6.900.000 đồng cho anh Vũ Minh D1. Anh D2 đã nhận lại chiếc nhẫn và không có ý kiến, yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với số tiền 2.500.000 đồng trong phong bì để trên giá sách phòng chị Nguyễn Thị Đào Q, do chị Q không nhớ đã chi tiêu số tiền trên hay bị trộm cắp nên không có yêu cầu đề nghị gì, H1 khai không trộm cắp số tiền trên nên không có căn cứ để xử lý đối với H1. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với anh Nguyễn Mậu T được Trần Thị H1 nhờ đem chiếc nhẫn đưa cho chị Q để lấy tiền chuộc, anh T không biết chiếc nhẫn trên do H1 phạm tội mà có, không bàn bạc với H1 để trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo: Trần Thị H1 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án sẽ được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách án treo, nếu bị cáo cố ý vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Thị H1.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo có liên quan đến vụ án.

    Trả lại cho anh Nguyễn Mậu T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13 màu tím đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

    Các vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 179/GN/THA-CG ngày 13/6/2024 giữa Công an quận C và Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả 01 (một) chiếc nhẫn (dạng nhẫn cưới) màu vàng, có đính 01 viên đá dạng trơn cho anh Vũ Minh D1. Anh D2 đã nhận lại chiếc nhẫn và không có ý kiến, yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Đối với số tiền 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng trong phong bì để trên giá sách phòng chị Nguyễn Thị Đào Q, do chị Q không nhớ đã chi tiêu số tiền trên hay bị trộm cắp nên không có yêu cầu đề nghị gì, H1 khai không trộm cắp số tiền trên nên không có căn cứ để xử lý đối với H1. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Đối với anh Nguyễn Mậu T được Trần Thị H1 nhờ đem chiếc nhẫn đưa cho chị Q để lấy tiền chuộc, anh T không biết chiếc nhẫn trên do H1 phạm tội mà có, không bàn bạc với H1 để trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Trần Thị H1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  8. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần Bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người bị hại; Người liên quan;
  • - VKSND quận Cầu Giấy;
  • - Công an quận Cầu Giấy;
  • - Chi cục Thi hành án DS quận Cầu Giấy;
  • - TAND.TP Hà Nội;
  • - VKSND TP.Hà Nội;
  • - UBND phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + Văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Hoàng Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 142/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H1 08 (T1) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger