TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2024/HS-ST Ngày: 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Quàng Văn Ngoan.
- Bà Hà Thị Thanh Liêm.
- Thư ký phiên toà: Bà Cà Thị Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bằng Phi- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/10/1989 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Thôn B H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1964 và bà Doãn Thị O, sinh năm 1967; Bị cáo có vợ là Hà Thị T, sinh năm 1993 và có 02 con (con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2015); Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 28/12/2020 bị TAND huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 28/12/2022 (chưa được xóa); Nhân thân: Năm 2008 bị TAND thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt từ ngày 13 tháng 3 năm 2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 50 phút ngày 13/3/2024, tổ công tác Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã H, thành phố S phát hiện một người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì người đàn ông khai nhận tên là Nguyễn Văn K, sinh năm 1989, trú tại thôn B H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đồng thời tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu xanh chứa chất cục bột màu trắng K đang cầm trong lòng bàn tay phải và khai nhận đó là ma túy loại Heroine K1 mua cất giấu để sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng nghi là chất ma túy, tạm giữ của Nguyễn Văn K 01 chiếc điện thoại IPHONE 6s Plus màu xám, loại màn hình cảm ứng, số IMEI: 353302074161822, lắp thẻ sim có số thuê bao: 0365766893 đã qua sử dụng sau đó dẫn giải Nguyễn Văn K về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S để điều tra, làm rõ.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn K, kết quả: Chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,13 gam đồng thời lấy 0,06 gam gửi giám định, mẫu có ký hiệu N. Còn lại 0,07 gam làm mẫu lưu kho vật chứng, mẫu có ký hiệu K.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 322/QĐ-ĐCSKT-MT đối với số vật chứng nghi là ma túy thu giữ trong vụ án.
Tại kết luận giám định số 685/KL-KTHS Ngày 14/3/2024 của phòng K3 Công an tỉnh S, kết luận “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy; Loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi vổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma túy là 0,13 gam loại Heroine,có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi vổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận: Nguyễn Văn K sử dụng chất ma túy từ năm 2005. Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 13/3/2024, K đi bộ từ nhà tại thôn B H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La theo đường tránh về hướng trung tâm thành phố S. Trên đường đi K gọi điện thoại bằng số 0365.766.xxx vào số 0789.169.077 của Đỗ Văn T1 địa chỉ tại tổ E, phường Q, thành phố S hẹn mua ma túy. T1 đồng ý và hẹn K đến khu vực đường tránh thành phố S để giao dịch mua bán ma túy. K đi đến đoạn đường tránh thuộc bản N, xã H đứng chờ đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày T1 đi xe máy đến gặp K và bán cho K 01 gói nilon màu xanh đựng Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy K cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải đi tìm chỗ sử dụng, khi K đang đi trên đoạn đường tránh thuộc bản N, xã H thì gặp tổ công tác Công an thành phố S kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành kiểm tra thông tin điện thoại của Nguyễn Văn K. Kết quả: Ngày 13/3/2024 số điện thoại 0365.766.xxx của Nguyễn Văn K nhận 02 cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0789.169.xxx và phát sinh 09 cuộc gọi đi đến số 0789.169.077. Ngoài thông tin lịch sử cuộc gọi không có dữ liệu nào khác nào khác liên quan đến hành vi phạm tội. Qua xác minh với Tổng công ty V xác định số điện thoại 0789.169.xxx không phải của Đỗ Văn T1 mà đăng ký mang tên Lò Văn T2, sinh ngày 23/4/2004, trú tại bản Xá Hồng, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Ngày 24/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an thành phố S đã xác minh tại bản Xá Hồng, xã C, huyện M, kết quả Lò Văn T2 có hộ khẩu tại địa phương tuy nhiên thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không khai báo cư trú với chính quyền. Ngày 31/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã tiến hành thu thập bản ảnh Lò Văn T2 cho Nguyễn Văn K nhận dạng, kết quả: Lò Văn T2 không phải người bán ma túy cho Nguyễn Văn K ngày 13/3/2024.
Về nguồn gốc 0,13 gam Heroine bị thu giữ, Nguyễn Văn K khai nhận mua của Đỗ Văn T1, địa chỉ tại tổ E, phường Q, thành phố S tại khu vực đường tránh tại bản N, xã H, thành phố S. Quá trình xác minh, tại tổ E, phường Q, thành phố S có đối tượng Đỗ Văn T1, sinh năm 1981, T1 là người có tiền án về tội phạm ma túy thuộc diện quản lý đối tượng nghiện chất ma túy của Công an phường Q tuy nhiên T1 thường xuyên không có mặt ở địa phương. Quá trình điều tra xác minh xác định T1 không có mặt tại nơi cư trú, chính quyền địa phương và gia đình không biết T1 đang ở đâu. Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Văn K và các các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra. Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định truy tìm người số 373/QĐ-ĐCSKT-MT đối với Đỗ Văn T1 nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S sẽ tiếp tục xác minh xử lý đối với Đỗ Văn T1 khi có đủ căn cứ.
Tại bản cáo trạng số 379/CT-VKSTP ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 16 đến 20 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh; Mẫu lưu kho ký hiệu K =0,07gam và 01 sim điện thoại thuê bao 0365.766.xxx thuộc nhà mạng Viettel, trên sim có 05 số cuối 37790
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám, loại màn hình cảm ứng, số IMEI có 05 số cuối 61822, đã qua sử dụng.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Ngày 13/3/2024, Nguyễn Văn K đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,13 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an thành phố S phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng vật chứng tại đoạn đường tránh thuộc bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13giờ 00 phút ngày 13/3/2024 tại khu vực bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Văn K cùng vật chứng thu giữ là:01 gói nilon màu xanh bên trong có cục bột màu trắng; 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám, loại màn hình cảm ứng đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim điện thoại thuê bao 0365.766.xxx thuộc nhà mạng Viettel, đã qua sử dụng.
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của ông Lò Văn H, sinh năm 1957, HKTT: Tổ B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội với tổng khối lượng 0,13 gam Heroine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy có nhân thân xấu, có 1 tiền án đã được xóa án tích. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo làm nghề lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 0,13 gam Heroine bị thu giữ, Nguyễn Văn K khai nhận mua của Đỗ Văn T1, địa chỉ tại tổ E, phường Q, thành phố S tại khu vực đường tránh tại bản N, xã H, thành phố S. Quá trình xác minh xác định tại tổ E, phường Q, thành phố S có đối tượng Đỗ Văn T1, sinh năm 1981, T1 là người có tiền án về tội phạm ma túy thuộc diện quản lý đối tượng nghiện chất ma túy của Công an phường Q tuy nhiên T1 thường xuyên không có mặt ở địa phương. Quá trình điều tra xác minh xác định T1 không có mặt tại nơi cư trú, chính quyền địa phương và gia đình không biết T1 đang ở đâu. Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Văn K và các các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra. Ngày 20/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định truy tìm người số 373/QĐ-ĐCSKT-MT đối với Đỗ Văn T1 nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S sẽ tiếp tục xác minh xử lý đối với Đỗ Văn T1 khi có đủ căn cứ.
[6] Vật chứng vụ án:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh; Mẫu lưu kho ký hiệu K =0,07gam là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám, loại màn hình cảm ứng, số IMEI có 05 số cuối 61822, đã qua sử dụng bên trong có lắp 01 sim điện thoại thuê bao 0365.766.xxx thuộc nhà mạng Viettel, trên sim có 05 số cuối 37790, đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu xanh; Mẫu lưu kho ký hiệu K =0,07gam và 01 sim điện thoại thuê bao 0365.766.xxx thuộc nhà mạng Viettel, trên sim có 05 số cuối 37790.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu xám, loại màn hình cảm ứng, số IMEI có 05 số cuối 61822, đã qua sử dụng.
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/9/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 142/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 142/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn Kiên phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
