|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KHÁNH HÒA |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 142/2024/HS-PT |
Ngày: 16/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn;
- - Các thẩm phán:
- Ông Lê Thành Trung;
- Bà Lê Thị Hạng.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 159/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 160/2024/QĐXXPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đình T do có kháng cáo của bị cáo nêu trên đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Đình T, sinh năm 1971 tại tỉnh Khánh Hòa; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: TỔ A V, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; Chỗ ở hiện tại: Tổ dân phố H, thị trấn T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị T2 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007. Tiền án; không; Tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình T: Ông Nguyễn Văn T3 – Luật sư - Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, địa chỉ: P.1 – 03.03 Tầng 3, Cao ốc T, số B Đại lộ M, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S và Nguyễn Đình T cùng là lái xe ô tô chở khách chạy tuyến N - K và ngược lại. Trong quá trình kinh doanh giữa S và T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trong việc tranh giành khách.
Khoảng 15 giờ ngày 31/3/2023, S điều khiển xe ô tô biển số 47F-001.90 lưu hành trên Tinh lộ 9 theo hướng N - K. Khi đến Km 143 thuộc thôn T, xã C, huyện C thì lúc này có xe ô tô 78B-009.59 do T điều khiển đang chạy theo hướng ngược lại. Nghĩ T ném chất bẩn vào xe mình nên S cho xe dừng lại và mở cửa xuống xe thì T cũng cho xe dừng lại và cùng 01 người đàn ông (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đi đến chỗ S đang đứng. Tại đây, giữa T và S xảy ra cãi nhau xung quanh việc S cho rằng T ném chất bẩn vào xe S cũng như việc tranh giành khách. Sau đó, T quay lại xe của mình lấy một thanh kim loại tròn đường kính 02cm, dài 73cm đến đứng đối diện với S; hai bên tiếp tục cãi nhau thì T cầm thanh kim loại bằng hai tay đánh theo hướng từ phải sang trái trúng vào phía sau vùng đầu của S. Sau đó, T cùng người đàn ông lên xe ô tô và điều khiển xe bỏ đi, còn S điều khiển xe ô tô của mình đến Trạm y tế xã C, thành phố C sơ cứu vết thương.
Ngày 03/4/2023, Nguyễn Văn S có đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Đình T.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 39/CN ngày 28/4/2023 của Bệnh viện Đ xác định Nguyễn Văn S: Vùng chẩm trái sưng phù nề kích thước 03x03cm, có vết thương rách da dài 1,5cm đã khâu không chảy máu, không chảy dịch.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 453/23/KLTTCTPYKH ngày 01/6/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh K tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn S tại thời điểm giám định là 01% và thương tích không nguy hiểm đến tính mạng.
Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSCL ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình T về tội “Cố ý gây thương tích”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Đối với người đàn ông đi cùng Nguyễn Đình T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thông báo truy tìm nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình T đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn S số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn S có đơn đề nghị bị cáo bồi thường thêm số tiền 29.000.000 đồng, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận những yêu cầu có căn cứ, có hoá đơn chứng từ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HSST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa quyết định:
- Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 (sáu) tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/8/2024, bị cáo Nguyễn Đình T có đơn kháng cáo đề nghị không áp dụng áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ, xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T và giữ nguyên bản án sơ thẩm do mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo:
Trong vụ việc với bị hại S, xuất phát từ những hành vi sai trái pháp luật của bị hại S với bị cáo và bà L, đây là mối quan hệ đặc biệt giữa bị cáo, bị hại và bà L dẫn đến mâu thuẫn và bức xúc dồn nén kéo dài nhiều năm, bị cáo đã không kiểm soát được bản thân mà phạm tội, chứ không phải bản thân bị cáo hành xử côn đồ.
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hơn nữa, tỷ lệ thương tật của bị hại S theo kết luận giám định là 1% (Một phần trăm). Đồng thời bị cáo đã cố gắng tìm mọi giải pháp để thương lượng cùng bị hại S, tuy nhiên, Bị hại S đã sử dụng vụ việc này để giải quyết những mâu thuẫn bức xúc khác trong công việc và cuộc sống giữa bị cáo với bị hại.
Bên cạnh đó, hành vi cố ý gây thương tích theo Điều 134 Bộ luật hình sự đã có dấu hiệu của yếu tố chủ quan là hành vi cố ý, tức bao hàm cả yếu tố có thể thuộc trường hợp là “côn đồ”. Do đó, việc bị cáo đã bị tuyên phạm tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 điều 134 của Bộ luật hình sự nhưng lại áp dụng thêm tình tiết “côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 134 của Bộ luật hình sự là thực sự quá nặng.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 54 và Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T cải tạo không giam giữ và khấu trừ 10% thu nhập của bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình T khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa.
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống mà bị cáo dùng thanh sắt là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu là vùng trọng yếu của bị hại, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, xâm phạm trực tiếp đến thân thể, quyền tự do cá nhân, sức khỏe của con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trật tự địa phương.
Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về hành vi “Cố gây gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Xét thấy mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là đã tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình T và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134 điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đình T.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đình T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 142/2024/HS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự
- Số bản án: 142/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
