|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 142/2024/HSPT Ngày: 07/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương
Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 07/8/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H1 và người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Dương Thị M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 167/2024/QĐXXPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Nguyễn Văn B (đã chết) và con bà Nguyễn Thị G sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; không bị tạm giữ, tạm giam.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại có kháng cáo: Anh Phạm Xuân H2, sinh năm 1983 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Dương Thị M, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H1, sinh ngày 06/9/1997, trú tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Tối ngày 12/8/2023 H1 có ăn cơm và uống rượu tại nhà, đến khoảng 23 giờ cùng ngày H1 tự ý lấy và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (sau đây viết tắt là BKS) 98B2-774.39, nhãn hiệu Honda Vision màu xanh tím than của mẹ H1 là bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1970 đi từ nhà lên thị trấn Đ, huyện L để mua đồ về ăn đêm. Khi H1 điều khiển xe mô tô đi đến K + 700m, Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, H1 khai đi với tốc độ khoảng 50 Km/h, do không làm chủ được tốc độ nên đã đi lấn sang làn đường ngược chiều theo chiều đi của H1 và đã để bánh trước xe mô tô của H1 va chạm với xe mô tô BKS 98F6-7224 do anh Phạm Xuân H2, sinh năm 1983, trú tại thôn Y, xã B, huyện L điều khiển đi ngược chiều, làm H1, anh H2 cùng 02 xe mô tô bị đổ, ngã ra đường. Hậu quả làm anh H2 tử vong tại chỗ, H1 bị thương được đến Bệnh viện H4- Hà Nội điều trị, đến ngày 29/8/2023 thì ra viện.
Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với H1: Nồng độ cồn: 218.0 mg/dl. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với anh H2: Nồng độ cồn: 187.9 mg/dl.
Sau khi vụ việc xảy ra, Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Cơ quan CSĐT Công an huyện L tạm giữ: 01 xe mô tô BKS 98F6-7224; 01 xe mô tô BKS 98B2- 774.39.
* Khám nghiệm hiện trường xác định:
Đoạn đường xảy ra vụ tại Km 17 + 700, Quốc lộ C thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng, trải nhựa rộng 11,2m. Bên phải sát rãnh thoát nước rộng 0,2m và dải ngăn cách với đường nội khu khu đô thị Đ. Bên trái sát rãnh thoát nước rộng 0,5m và mương thoát nước, đất trống, không có vạch kẻ đường. Khám nghiệm hiện trường theo hướng Bắc Giang- L, trái phải đường xác định theo hướng khám nghiệm.
Các dấu vết, phương tiện, tử thi: 02 vết cày xước mặt đường ký hiệu lần lượt là (1), (4); có 02 xe mô tô ký hiệu lần lượt là (2), (5); có 01 dấu vết máu ký hiệu là (3); có 01 tử thi và đám máu, tổ chức não người ký hiệu (6). Dấu vết cày xước mặt đường thứ nhất ký hiệu (1), dạng chùm không liên tục, kích thước 3,2x1,3m, chiều hướng Bắc Giang- L. Đầu vết phía Bắc Giang, cách mép đường trái 3,84m, cách cột báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (bên trái) ở dải ngăn cách là 10,38m về phía L, cách cột biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên (hai bên) ở dải ngăn cách là 27,6m về phía Bắc Giang. Cuối vết phía Lục Ngạn, trùng đầu tay lái bên phải xe mô tô ký hiệu (2), cách mép đường trái là 2,69m. Xe mô tô ký hiệu (2) nhãn hiệu Honda Vision, BKS 98B2-774.39 đổ nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe hướng Bắc Giang chếch chéo mép đường trái, đuôi xe hướng Lục Ngạn, chếch chéo mép đường phải. Trục trước cách mép đường trái 3,1m. Trục sau cách đầu vết (1) là 2,78m về phía L, cách mép đường trái là 3,9m. Dấu vết máu ký hiệu (3) dạng vũng, thấm, nhỏ giọt kích thước 1,35m x 0,7m trên mặt đường. Cách trục sau xe mô tô (2) là 0,65m về phía Lục Ngạn, cách mép đường trái 3,63m. Vết cày xước mặt đường thứ hai ký hiệu (4): Dạng chùm không liên tục, kích thước (3,13x0,7)m, chiều hướng Bắc Giang- L. Đầu vết phía Bắc Giang cách trục sau xe mô tô (2) là 0,7m về phía Lục Ngạn, cách mép đường trái là 3,23m. Cuối vết phía Lục Ngạn, trùng để chân trước bên phải xe mô tô ký hiệu (5), cách mép đường trái là 2,25m. Xe mô tô ký hiệu (5) đổ nghiêng phải trên mặt đường, đầu xe hướng L, đuôi xe hướng Bắc Giang. Trục trước cách mép đường trái là 2,36m. Trục sau cách mép đường trái 2,33m, cách trục sau xe mô tô ký hiệu (2) là 3,15m về phía Lục N (loại xe Dream, biển số 98F6-7224). Tử thi và đám máu, tổ chức não người ký hiệu (6): Tử thi là nam giới: Đầu hướng mép đường phải, trên mặt đường, mặt hướng Lục Ngạn, đỉnh đầu cách trục sau xe mô tô ký hiệu (5) là 1,35m về phía Lục Ngạn, đỉnh đầu cách trục sau xe mô tô ký hiệu (5) là 1,35m về phía Lục Ngạn. Tay trái co trước mặt, tay phải co phía sau. Chân trái duỗi tự nhuên sát phía trên phần thân xe mô tô ký hiệu (5), gót chân trái cách trục sau xe mô tô (5) là 0,3m về phía Lục Ngạn, cách mép đường trái là 2,32m. Chân phải co trước bụng, dưới tử thi có máu dạng vũng và tổ chức não. Mở rộng hiện trường về hai phía Bắc Giang và Lục Ngạn 100m không phát hiện biển báo nguy hiểm nào. Từ vết (1) đến vết (6) có nhiều mảnh nhựa vỡ rải rác, mũ bảo hộ màu vàng. Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: 02 xe mô tô ký hiệu (2) và (5).
* Khám nghiệm tử thi anh Phạm Xuân H2
- Khám ngoài: Mặc ngoài áo phông cộc tay màu đen, quần dài màu đen, hai chân đi tất màu đen, giày màu đen. Bên trong mặc quần lót màu xanh trắng. Chiều dài tử thi 1,62m, thể trạng phát triển bình thường, tình trạng tử thi đang trong giai đoạn mềm lạnh. Vùng đầu: Tóc đen cắt trung bình hái mắt khép, đồng tử hai bên giãn to. Hai lỗ tai, lỗ mũi, khoang miệng có máu không đông chảy ra khi thay đổi tư thế. Chính giữa vùng trán và sống mũi có diện dập rách da bờ mép không gọn sâu thấu trong kích thước (9x6)cm. Vùng ngực có diện sây sát da kích thước 27x9cm. Vũng bụng có diện sây sát da bầm tím mất lớp thượng bì kích thước 25cm x 20 cm. Mặt mu ngón 4,5 bàn tay trái bị rách da, bờ mép không gọn sâu tới xương, kích thước 5x4cm. Mặt mu bàn chân phải có vết sây sát da kích thước 1cm x 1cm. Mặt trước gối trái có vết sây sát da kích thước 6cm x 3 cm. Mặt trước cổ chân trái có vết sây sát da kích thước (6x3)cm. Sờ nắn kiểm tra thấy gãy kín 1/3 xương ức. Gãy hở xương đốt 1 ngón 4 bàn tay trái. Gãy kín 1/3 dưới xương đùi trái. Vỡ phức tạp xương gò má hai bên. Môi trên dưới vùng cằm có diện sây sát da kích thước 5cm x 3cm.
- Mổ tử thi: Kiểm tra tổn thương vùng trán thấy sập vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán, trần hốc mắt phải và xương sống mũi thành nhiều mảnh nhỏ để lộ tổ chức não thoát ra.
* Khám nghiệm phương tiện:
- Khám xe mô tô 98B2 - 774.39, phát hiện các dấu vết như sau: Toàn bộ ốp nhựa phía trước đầu xe, cánh yếm hai bên, chắn bùn trước bánh trước bị gãy vỡ rời khỏi xe. Trục trước bị đẩy xô lệch từ trước về sau, từ phải qua trái. Mặt ngoài má lốp bên phải bánh trước có vùng dấu vết trượt xước, chiều hướng từ ngoài vào tâm trục, kích thước (9x12)cm, trên vùng này có mất khuyết vùng cao su, kích thước (1,5x1)cm, chiều hướng từ ngoài vào tâm trục, điểm gần nhất vùng này chách chữ “R” của dòng chữ “RESTONE” trên má lốp bên phải là 6cm theo chiều ngược chiều tiến của bánh xe. Trên mặt ngoài bên phải vành bánh trước có dấu vết trượt xước khuyết kim loại, đẩy cong từ ngoài vào tâm trục, trên có bám dính rải rác vật chất màu xanh đen, kích thước (9x2)cm, điểm gần nhất cách chân van 16cm, theo cùng chiều tiến của bánh xe. Trên mặt ngoài bên phải vành bánh trước có dấu vết trượt xước, móp méo kim loại, chiều hướng từ trước về sau, từ phải qua trái, trên có bám dính rải rác vật chất màu tím, kích thước (7x2,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 5cm, theo ngược chiều tiến của bánh xe. Mặt ngoài giảm sóc bên phải bánh trước có rải rác các dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu đen và xanh trên diện (28x4)cm, điểm thấp nhất cách đất 20cm, điểm cao nhất cách đất 48cm. Mặt dưới và mặt ngoài đầu ốc bên phải trục bánh trước có dấu vết trượt bám dính vật chất màu đen, kích thước (1,5 x 1)cm, tâm vết cao cách đất 24cm. Giảm sóc trước hai bên bị đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ phải qua trái, từ trước về sau. Bánh lốp trước bị hết hơi. Mặt ngoài ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng phía trước có dấu vết trượt xước bám dính vật chất màu tím, kích thước (12x6) cm. Mặt ngoài vành xe bên trái bánh trước có dấu vết trượt xước, biến dạng kim loại, chiều hướng từ trái qua phải, kích thước (6x3)cm, tâm vết cách chân van 6cm, theo chiều ngược chiều tiến bánh xe. Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,2x1)cm. Đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,5x0,5)cm. Mặt ngoài tay xách sau bên phải có vết trượt xước, kích thước (2x0,5)cm. Mặt ngoài ốp nhựa cụm đèn tín hiệu sau bên phải có vết trượt xước, kích thước (2x1)cm. Mặt ngoài giá đỡ đề chân sau bên phải có vết trượt xước, kích thước (10x3)cm. Mặt ngoài ốp kim loại bên ngoài ống xả có dấu vết trượt xước, kích thước (34x6)cm.
- Khám xe mô tô 98F6 - 7224, phát hiện các dấu vết như sau: Chắn bùn trước bánh trước bị gãy rời khỏi xe. Săm, lốp bánh trước bị bung bật khỏi vành xe. Vành xe bánh trước bị cong vênh biến dạng, trên có vết cong gập biến dạng kim loại, có chiều hướng từ ngoài vào tâm trục, tâm vết cách chân van 16cm, theo chiều ngược chiều tiến bánh xe, tâm vết nằm ở phía cạnh bên trái của vành xe. Mặt ngoài moay ơ bánh trước có vùng chi tiết trượt xước, bám dính vật chất màu đen, chiều hướng từ ngoài vào tâm trục, kích thước (11x1,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 17cm, điểm cao nhất cách đất 26cm. Mặt ngoài của giảm xóc trước bên trái có dấu vết trượt xước kích thước (20x1,5)cm, chiều hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 19cm, điểm cao nhất cách đất 38cm. Mặt ngoài ốp nhựa giảm sóc trước bên trái có dấu vết trượt xước, nứt vỡ nhựa, chiều hướng từ trước về sau, trên diện kích thước (22x6) cm, trên có rải rác bám dính vật chất màu xanh, điểm thấp nhất cách đấy 38cm, điểm cao nhất cách đất 59cm. Giá đỡ giỏ hàng phía trước bằng kim loại bị đẩy xô lệch biến dạng kim loại, chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải. Mặt bên trái của moay ơ bánh trước có dấu vết trượt, bám dính vật chất màu đen, kích thước (6 x 0,3) cm, chiều hướng từ trái qua phải. Trục xe phía trước bị đẩy xô lệch khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải. Cánh yếm bên trái có vùng nứt, vỡ nhựa, kích thước (20x16)cm, điểm thấp nhất cách đất 50cm, điểm cao nhất cách đất 70cm. Cánh yếm bên phải có vùng vỡ khuyết nhựa kích thước (15x23)cm. Ốp nhựa cụm đèn chiếu sáng phía trước và cụm đèn tín hiệu phía trước bên trái bị nứt, vỡ rời khỏi xe. Đầu tay nắm bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (3x2)cm. Đầu tay phanh bên phải có dấu vết trượt xước, kích thước (1,2x1)cm. Đầu để chân trước bên phải có dấu vết trượt xước, rách thủng cao su, kích thước (3,5 x 3)cm, để chân bị xô lệch khỏi vị trí cố định, chiều hướng từ trước về sau. Mặt ngoài bên phải yên xe có dấu vết trượt xước, kích thước (16x2)cm. Mặt ngoài tay xách sau bên phải có vết trượt xước, kích thước (15x2)cm. Mặt ngoài ống xả có dấu vết trượt xước, kích thước (30x1,5)cm.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã trưng cầu giám định xác định nguyên nhân chết của anh Phạm Xuân H2. Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1675/KL-KTHS ngày 11/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Phạm Xuân H2 do đa chấn thương: Chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt, chấn thương ngực kín; gãy xương đùi trái. Cơ chế hình thành dấu vết: Các tổn thương bầm tím, sây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau theo nhiều chiều hướng tạo nên. Tổn thương vỡ xương trán và xương gò má, gãy xương đùi trái được hình thành do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh trực tiếp tạo nên.
Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng K Công an tỉnh B giám định cơ chế hình thành dấu vết trên phương tiện trong vụ tai nạn giao thông. Tại Kết luận giám định số 1877/KL-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại bên trái bánh trước của xe mô tô BKS 98F6- 7224 gồm: nan hoa, may ơ và cụm chi tiết hãm phanh, có chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải (ảnh số 8, 12 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết hằn lõm, trượt xước cao su, khuyết kim loại tại bên phải lốp và vành bánh trước của xe mô tô BKS 98B2- 774.39, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh, từ phải sang trái (ảnh số 8, 9 bản ảnh khám phương tiện).
- - Dấu vết gãy vỡ, trượt xước sơn nhựa, bám dính chất màu xanh (dạng sơn) tại chắn bùn bánh trước và ốp bảo vệ giảm sóc trước bên trái của xe mô tô BKS 98F6- 7224 (ảnh số 5, 10 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy vỡ nhựa, trượt xước cao su, bám dính chất màu nâu tím (dạng sơn) tại bên phải vành bánh trước (vị trí cách chân van 05cm) và chắn bùn bánh trước của xe mô tô BKS 98B2- 774.39, có chiều hướng từ trước về sau (ảnh số 7, 10 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết cày xước ký hiệu số 1 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô BKS 98B2- 774.39 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên. Dấu vết cày xước ký hiệu số 4 phù hợp với quá trình sau khi va chạm, xe mô tô BKS 98F6- 7224 đổ nghiêng phải, văng rê trên mặt đường tạo nên.
- Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 98F6- 7224 và xe mô tô BKS 98B2 - 774.39 trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên trái theo hướng Bắc Giang đi L (khi chia mặt đường thành hai phần bằng nhau).
- Chiều hướng chuyển động: tại thời điểm xảy ra va chạm, hai phương tiện trong tư thế đứng, ngược nhau.
- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Nguyễn Văn H1 03 ( ba ) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 06/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Dương Thị M kháng cáo yêu cầu bị cáo H1 phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung của chị và anh H2 mỗi cháu 1.000.000đồng/ tháng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
* Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, trường hợp không được hưởng án treo thì bị cáo xin giảm nhe hình phạt. Đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại.
Bị cáo không tranh luận gì, xin hưởng mức án thấp nhất.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Nguyễn Văn H1, sinh ngày 06/9/1997; trú tại: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định. Tối ngày 12/8/2023 H1 có ăn cơm và uống rượu tại nhà, sau đó H1 tự ý lấy xe mô tô BKS 98B2- 774.39, nhãn hiệu Honda Vision màu xanh tím than của bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1970 (là mẹ đẻ của H1) đi mua đồ ăn đêm, đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày H1 điều khiển xe mô tô đi đến K + 700m, Quốc lộ C thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L. Do tham gia giao thông trong máu có nồng độ cồn, không đi đúng làn đường nên đã để bánh trước xe mô tô của H1 va chạm với xe mô tô của anh Phạm Xuân H2, sinh năm 1983, trú tại thôn Y, xã B, huyện L điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả làm anh H2 tử vong do chấn thương sọ não; chấn thương hàm mặt, chấn thương ngực kín; gãy xương đùi trái.
Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn H1 khi tham gia giao thông, điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, đi không đi đúng làn đường vi phạm khoản 8, 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ nên đã va chạm với xe mô tô do anh Phạm Xuân H2 điều khiển làm anh H2 tử vong. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của Nguyễn Văn H1.
Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
[2]. Xét nội dung kháng cáo yêu cầu cấp dưỡng của người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Dương Thị M:
Quá trình điều tra, truy tố vụ án, Nguyễn Văn H1 đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Phạm Xuân H2 tổng số tiền 150.000.000đồng. Chị Dương Thị M đại diện gia đình anh H2 đã nhận số tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại là chị Dương Thị M cũng không có yêu cầu bồi thường gì thêm đối với bị cáo nên Bản án sơ thẩm không xem xét về trách nhiệm dân sự. Do Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết về trách nhiệm dân sự nên HĐXX phúc thẩm không có căn cứ để xem xét kháng cáo yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Dương Thị M. Tại phiên tòa chị M rút yêu cầu kháng cáo về yêu cầu cấp dưỡng nêu trên, việc rút kháng cáo của chị M là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc gì nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại.
[3]. Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H1. Hội đồng xét xử xét thấy:
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Văn H1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có 02 tình tiết định khung tăng nặng, bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 và Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án sơ thẩm đánh giá về nhân thân và áp dụng các tình tiết tặng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt tù giam bị cáo là có căn cứ. Do vậy kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm một số tài liệu: Bị cáo có ông ngoại là Nguyễn Văn H3 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo tự nguyện tham gia ủng hộ quỹ xóa nhà tạm nhà dột được chính quyền địa phương xác nhận; Đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa cũng đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm; quá trình lao động làm việc tại Công ty M1 bị cáo được công ty xác nhận là có thái độ tốt, chăm ngoan, có trách nhiệm trong công việc và đã tự nguyện nộp 200.000đồng án phí chấp hành bản án sơ thẩm.. Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, trước khi xảy ra sự việc chưa có hành vi vi phạm pháp luật nào, bản thân bị cáo cũng bị thương tích trong vụ án đang phải điều trị tại bệnh viện do chấn thương vùng mặt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và ân hận về hành vi phạm tội của mình do vậy, áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng dưới mức khởi điểm của khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[3]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Căn cứ Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại chị Dương Thị M. Trả lại chị Dương Thị M số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357; Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của chị Dương Thị M về việc buộc bị cáo cấp dưỡng nuôi 02 con của anh do anh H2 đã chết.
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt: Nguyễn Văn H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Trả lại chị Dương Thị M số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp theo Biên lai số 0008219 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 142/2024/HSPT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 142/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiếu - Vi phạm tham giao thông đường bộ
