Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2024/HC-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình Khiêm

Ông Phạm Văn Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-HC ngày 06 tháng 5 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1987

Địa chỉ: I L, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
  2. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Anh T - Giám đốc

  3. Ủy ban nhân dân thành phố P
  4. Ông Cáp Văn S, sinh năm 1974
  5. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1979

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2

Tại phiên toà, có mặt bà H. Vắng mặt ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị T1, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân P nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện bà Lê Thị Thu H trình bày:

Ngày 09/02/2021, giữa ông Cáp Văn S với bà Lê Thị Thu H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN250255; số vào sổ cấp GCN CS02176 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/6/2018.

Từ ngày 25/02/2022 đến ngày 05/3/2024, bà có nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đến 4 lần nhưng đều bị hoàn trả hồ sơ với nội dung là: Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch.

Và gần đây nhất, bà có nộp hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất với biên nhận số 2024-3690/TNHS ngày 06/3/2024. Tuy nhiên, ngày 12/3/2024 bà nhận được thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H từ Chi nhánh Văn Phòng đăng ký đất dai P. Theo đó, Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng: Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch. Nên chưa có ý kiến chỉ đạo hướng dẫn giải quyết của cấp có thẩm quyền liên quan đến các việc khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng. Vì vậy, theo thông báo nêu trên hồ sơ của bà vẫn chưa được giải quyết và không biết thời gian bao lâu thì được giải quyết. Điều này gây cản trở rất lớn đến việc an cư lập nghiệp của bà và gia đình. Bởi lẽ, bà mua đất là để xây dựng nhà ở và buôn bán nhỏ để kiếm thu nhập trang trải kính phí sinh hoạt hàng ngày cho gia đình. Và hơn nữa là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà mua là được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 8190/QĐ-UBND ngày 23/11/2017, có đóng dấu ký tên rõ ràng, danh chính ngôn thuận như vậy nên bà mới mua.

Nay Chi nhánh Văn phòng Đ lấy lý do giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với trường hợp của bà. Nhận thấy quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm gây thiệt hại đến kinh tế và nhu cầu cấp thiết của gia đình nên nay, bà Lê Thị Thu H khởi kiện ra Tòa án yêu cầu:

- Hủy Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

3

- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc tiếp tục giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H theo quy định pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại Văn bản số 1764/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 12/6/2024 như sau:

Đối với vụ khiếu kiện trên, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có Văn bản số 5135/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 07/6/2024 cung cấp ý kiến và toàn bộ hồ sơ, tài liệu cho Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai không có hồ sơ, tài liệu nào khác ngoài hồ sơ, tài liệu mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có ý kiến tại văn bản số 5135/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 07/6/2024 như sau:

Ngày 06/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H tại biên nhận số 2024-3690/TNHS.

Bà Lê Thị Thu H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị T1 đối với thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9, diện tích 422,9m² đất, gồm 400,2m² đất ở nông thôn và 22,7m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 250255 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/6/2018 cho ông Cáp Văn S.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9 có lịch sử biến động như sau:

- Ngày 10/10/2017, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CI 309056 cho ông Nguyễn Văn T2, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Trần Đức H1 ngày 19/10/2017.

- Ngày 23/11/2017, ông Trần Đức H1 được UBND thành phố P ban hành Quyết định số 8190/QĐ-UBND về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 283,2m² sang đất ở tại nông thôn và được UBND thành phố P cấp Giấy chứng nhận số CL 837988 đối với thửa đất số 1090, tờ bản đồ số 9 và Giấy chứng nhận số CL 837989 đối với thửa đất số 1091, tờ bản đồ số 9 cùng ngày 26/12/2017.

- Ông Trần Đức H1 chuyển nhượng cho ông Cáp Văn S thửa đất số 1091, tờ bản đồ số 9 và được Chi nhánh Văn phòng xác nhận cập nhật chỉnh lý biến động vào Giấy chứng nhận số CL 837989 ngày 05/01/2018. Sau đó, ông Cáp Văn S được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại

4

nông thôn theo Quyết định số 631/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 và được cập nhật biến động vào ngày 21/3/2018.

- Ông Trần Đức H1 thực hiện tách thửa đất số 1090, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CL 837988 thành 03 (ba) thửa đất số 1100, 1101 và 1102; trong đỏ thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 9 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CM 375055 vào ngày 30/01/2018. Thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 9 được ông Trần Đức H1 chuyển nhượng cho ông Cáp Văn S và được Chi nhánh Văn phòng xác nhận cập nhật chỉnh lý biến động vào ngày 05/3/2018.

- Ông Cáp Văn S thực hiện đồng thời việc hợp thửa đất số 1100, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CM 375055 với thửa đất số 1091, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CL 837989 và tách thửa đất sau khi hợp thửa thành 05 (năm) thửa đất, trong đó có thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9, diện tích 422,9m² được cấp Giấy chứng nhận số CN 250255 vào ngày 28/6/2018.

Qua rà soát thì phần diện tích đất ở của thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9 theo Giấy chứng nhận số CN 250255 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép ông Cáp Văn S được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 631/QĐ-UBND ngày 26/01/2018 và cho phép ông Trần Đức H1 được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 8190/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có bào cào và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham muru, giải quyết trước đây.

Hiện nay, Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 12/3/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn

5

trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà Lê Thị Thu H được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị T1 quá trình đối thoại đã trình bày:

Việc chuyển nhượng của vợ chồng ông và bà Lê Thị Thu H đã xong, vợ chồng ông bà xác định không tranh chấp gì liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng với bà H nên xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án (các buổi làm việc, phiên toà) cho đến khi vụ án kết thúc và bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H:

  • + Hủy Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H.
  • + Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
  • + Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện, ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị T1 nhưng tất cả đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 157, Điều 158 Luật

6

Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này là đúng quy định.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Lê Thị Thu H; Xét thấy Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của bà H, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 12/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 01/4/2024, bà H khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số CN 250255 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 28/6/2018 cho ông Cáp Văn S. Ngày 09/02/2021, ông Cáp Văn S, bà Phạm Thị T1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thừa đất nêu trên cho bà H. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, bà H đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thửa đất nêu trên. Ngày 12/3/2024, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà H, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với lý do diện tích đất được phép chuyển mục đích sử dụng đất tại Quyết định số 8190/QĐ-UBND ngày 23/11/2017 của bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển

7

mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã kiến nghị.

Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:

  1. ...
  2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai, quy định:

Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, ... khi có giấy chứng nhận...; Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.

- Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:

8

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng:

Bà H thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9, diện tích 422,9m² đất, gồm 400,2m² đất ở nông thôn và 22,7m² đất trồng cây lâu năm nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thừa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thửa đất số 1130, tờ bản đồ số 9, diện tích 422,9m2 đất, g gồm 400,2m² đất ở nông thôn và 22,7m² đất trồng cây lâu năm của bà H là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 về việc thông báo hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà H là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là phù hợp.

Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, Điều 157, 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

9

Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Lê Thị Thu H.

  • - Hủy Thông báo số 362/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 12/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
  • - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho bà Lê Thị Thu H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000232 ngày 15/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh B. Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, Tổ HCTP, THC;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 142/2024/HC-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 142/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger