TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 142/2023/HS-PT. Ngày: 11/8/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung.
Ông Đào Anh Đức.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2023/QĐXXPT-HS ngày 01/8/2023.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N; Tên gọi khác: Không - Sinh năm 1979 tại thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Phố A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn D (SN 1933); Con bà: Dương Thị T (SN 1940); Chồng: Nguyễn Hữu T1 (SN 1971); Có 02 con (Con lớn SN 1997, con nhỏ SN 2003); Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 25 tháng 01 năm 2022, bị Công an huyện C, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi: “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Ngày 26/01/2022 đã chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
- Người bị hại (Không kháng cáo): Anh Bùi Duy H (SN 1990). Nơi làm việc: Đội giao thông - Trật tự Công an huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt, có lý do).
- Những người làm chứng:
- Anh Bùi Tuấn Q, sinh năm: 1988 (Vắng mặt).
- Anh Trương Văn X, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
- Anh Hà Thế N1, sinh năm: 1986 (Vắng mặt).
- Anh Bùi Văn H1, sinh năm: 1991 (Vắng mặt).
- Anh Bùi Duy H, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).
- Anh Cao Văn S, sinh năm: 1991 (Vắng mặt).
- Anh Bùi Minh Đ - Sinh năm 2005. Trú tại: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
- Anh Trương Quốc T2, sinh năm: 2005. Trú tại: Khu phố C, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
- Bà Trương Thị T3, sinh năm: 1961 (Vắng mặ).
- Anh Nguyễn Hữu T4, sinh năm: 1997 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1998 (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị P, sinh năm: 1966. Trú tại: Phố D, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt).
Đều làm việc tại: Đội giao thông - Trật tự Công an huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
Đều trú tại: Phố A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 16/02/2023, Tổ công tác Cảnh sát giao thông - Trật tự, Công an huyện B gồm các đồng chí Đại úy Bùi Tuấn Q (Tổ trưởng), Đại úy Bùi Duy H, Đại úy Trương Văn X, Đại úy Hà Thế N1, Thượng úy Bùi Văn H1 và Thượng úy Cao Văn S đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát giao thông tại Km 95+100, QL217 phát hiện Nguyễn Thị Ngọc L (SN 1998) ở phố A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa điều khiển xe mô tô BKS: 34B5 - 005.91 có hành vi vi phạm “Không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy”. Tổ công tác đã ra tín hiệu dừng xe mô tô và thông báo cho chị L biết hành vi vi phạm rồi tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định. Quá trình đồng chí Bùi Tuấn Q lập biên bản, Nguyễn Thị N (tên thường gọi là “Ngân gà”, SN: 1979) ở phố A, TT. C, huyện B (Là mẹ chồng của L) đến xin Tổ công tác không lập biên bản vi phạm hành chính đối với L nhưng không được chấp nhận nên N đã có hành vi dùng tay túm, giật tờ biên bản mà Tổ công tác đang lập làm tờ biên bản bị nhàu để cản trở việc lập biên bản vi phạm hành chính đối với con dâu của N là L. Tiếp đến N dùng tay phải tát 01 (một) cái vào mặt của đồng chí Bùi Tuấn Q, đồng thời có lời nói lăng mạ, chửi bới, xúc phạm đồng chí Q và Tổ công tác rồi tự vạch áo vu khống đồng chí Q sàm sỡ. Thấy vậy, đồng chí Bùi Duy H đã đến hỗ trợ đồng chí Q xử lý hành vi vi phạm, khi đồng chí H vừa đến nơi, N chửi bới đồng chí H, dùng tay đánh vào bàn tay trái của đồng chí H làm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Z Flip3 5G, màu đen - vàng, màn hình gấp, số IMEI: 355001764792478, Số IMEI (eSIM): 359042134792471, đã qua sử dụng đang cầm trên tay rơi xuống đất bị nứt, vỡ mặt kính phía sau của điện thoại. Đồng chí Q và Tổ công tác đã yêu cầu Nguyễn Thị N dừng các hành vi cản trở Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ nhưng N không chấp hành nên Tổ công tác đã khống chế N, quá trình khống chế đồng chí Bùi Duy H bị N cắn vào bàn tay phải làm đồng chí H bị thương tại mặt ngoài đốt 3, ngón 2 tay phải kích thước (0,2 x 0,2cm) và mặt ngoài đốt 3, ngón 3 tay phải kích thước (03 x 0,2cm). Sau khi bị khống chế, N tiếp tục có lời nói dung tục, chửi bới, lăng mạ, xúc phạm đồng chí Q, đồng chí H và Tổ công tác nên đồng chí Cao Văn S đã sử dụng điện thoại di động để quay video lại hành vi của N làm căn cứ giải quyết vụ việc.
Tổ công tác đã tuyên bố bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản đối với Nguyễn Thị N về hành vi “Chống người thi hành công vụ” quy định tại Điều 330 Bộ luật Hình sự, đưa N về trụ sở Công an huyện B và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B để làm việc theo quy định.
Tại Cơ quan CSĐT Nguyễn Thị N đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của N là phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
- Kết luận định giá tài sản ngày 05/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: Tại thời điểm ngày 16/02/2023 giá trị tài sản cần định giá là chỉ khắc phục mặt kính phía sau của điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Z Flip3 5G, màu đen - vàng, màn hình gấp, số IMEI: 355001764792478, Số IMEI (eSIM): 359042134792471, đã qua sử dụng, bị nứt vỡ không thể khắc phục, sửa chữa được mà phải thay thế là 800.000₫ (Tám trăm nghìn đồng).
- Kết luận giám định số 1057/KL-KTHS ngày 14 tháng 3 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (Một) tệp video của 01 (Một) USB gửi giám định.
- Kết luận giám định pháp y về thương tích số 362/2023/TgT ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Duy H là 02% (Hai phần trăm).
- Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích (giám định pháp y về hung khí) số 363/2023/TgT ngày 17/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: - Vết xây xước da tại mặt ngoài đốt 3, ngón 2 tay phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật tày có cạnh sắc, hoặc vật tày có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt mu ngón II bàn tay phải.
Vết xây xước da tại mặt ngoài đốt 3, ngón 3 tay phải: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày có cạnh, hoặc vật tày có cạnh sắc, hoặc vật tày có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt mu ngón III bàn tay phải.
- Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 360/2023/TgT ngày 07 tháng 3 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Bùi Tuấn Q là 0% (không phần trăm).
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích (Giám định pháp y về hung khí) số 361/2023/TgT ngày 07/3/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Vết sưng đỏ gò má trái: Do tác động của ngoại lực được tạo nên bởi vật tày hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm đã được điều trị hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương. Tại Thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng:
- 01 (Một) biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề số 0070075/BB-TG, quyển số 01402 đã bị nhăn nhàu do tổ công tác Cảnh sát giao thông - Trật tự, Công an huyện B lập. Hiện đang được lưu giữ theo hồ sơ của vụ án.
- 01 (Một) USB màu xanh - đen, nhãn hiệu “Kingston”, bên trong chứa 01 (một) tệp video mang tên “IMG_3678.MOV" dung lượng 1.79GB (1,921,604,627 bytes) được niêm phong theo biên bản niêm, phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ lập hồi 17 giờ 35 phút, ngày 16/3/2023 tại Công an huyện B, tỉnh Thanh Hoá. Hiện đang được lưu giữ theo hồ sơ của vụ án.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy Z Flip3 5G, màu đen - vàng, màn hình gấp, số IMEI: 355001764792478, Số IMEI (eSIM): 359042134792471, đã qua sử dụng, mặt kính phía sau của điện thoại bị nứt vỡ. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử vật chứng số 02/QĐ-CSĐT ngày 24/3/2023 của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Thanh Hoá.
- Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/4/2023 Bùi Duy H có đơn không yêu cầu Nguyễn Thị N bồi thường về dân sự. Tại phiên Tòa Bùi Duy H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; Điểm k khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt Nguyễn Thị N 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và 07 (B) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai tội là 20 (Hai mươi ) tháng tù. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/6/2023 Nguyễn Thị N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm hình phạt cho bị cáo cả hai tội từ 04 (Bốn) tháng đến 08 (T5) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn kháng cáo của bị cáo được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 16/02/2023, tại Km 95 + 100, QL B, phố A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Thị N có hành vi chửi bới, xúc phạm, túm giật, làm nhàu biên bản và tát vào má đồng chí Bùi Tuấn Q, Tổ trưởng Tổ công tác Cảnh sát giao thông - Trật tự, Công an huyện B nhằm mục đích cản trở việc lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với con dâu là Nguyễn Thị Ngọc L. Sau đó Nguyễn Thị N có hành vi cắn vào tay đồng chí Bùi Duy H trong quá trình bị khống chế gây ra thương tích 02% cho đồng chí H. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm vào các tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 và tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của những người đang thi hành công vụ được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bản thân bị cáo ngày 25 tháng 01 năm 2022 đã bị Công an huyện C, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” nhưng không chịu lấy đó làm bài học để tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân lại tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đe và phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị N:
[4.1]. Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và có bố, mẹ đẻ đều là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến hạng nhất và hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi sai phạm của mình, đã tác động đến gia đình nộp toàn bộ án phí theo Quyết định của Bản án sơ thẩm tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0004321 ngày 12/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bá Thước khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Trước khi phạm tội, bị cáo là người rất tích cực tham gia đóng góp, ủng hộ các quỹ do địa phương phát động. Cụ thể đã ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa 2.000.000đ, ủng hộ Quỹ người nghèo xã Á, huyện B 2.000.000đ có xác nhận của chính quyền địa phương. Hơn nữa bản thân bị cáo là phụ nữ, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật rất hạn chế nên nhất thời phạm tội. Do đó HĐXX cần áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo.
[5] Xét nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh gia đình, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy mặc dù bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự song cùng lúc bị cáo đã phạm hai tội nên cần tiếp tục cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên HĐXX cần chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo thấy được tính nhân đạo và sự khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình, xã hội. Do vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị N. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/2023/HS-ST ngày 30/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 330; Điểm k khoản 1 Điều 134; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị N 09 (Chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” và 03 (Ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (Mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (16/02/2023).
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành |
Bản án số 142/2023/HS-PT ngày 11/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự (chống người thi hành công vụ và cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 142/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ và Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và tội “Cố ý gây thương tích”
