|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1419/2025/DS-PT Ngày: 12/11/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ngọc Phương
Ông Nguyễn Văn Minh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Đoàn Thục Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý – Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 885/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 263/2025/DSST ngày 27/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6134/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Ngọc A, sinh năm: 1975;
Địa chỉ: 5 L, Phường G, quận G (nay thuộc phường A), Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đoàn Vũ Minh T, sinh năm: 1999.
Địa chỉ: A H, phường V, Quận C (nay thuộc phường X), Thành phố Hồ Chí Minh.
(theo Giấy ủy quyền công chứng số 05357 ngày 04/5/2023 ) (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Trạch G, sinh năm 1978; Là Luật sư của Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số B Đường số I, KCN T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
Bị đơn: Công ty Cổ phần T5.
Địa chỉ: A Đường số G, K, Phường G, quận G (nay thuộc phường A), Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1981; Chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc.
Địa chỉ: A N, Phường G, quận G (nay thuộc phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1980.
Địa chỉ: A Đường số G, K, Phường G, quận G (nay thuộc phường A), Thành phố Hồ Chí Minh.
(theo Giấy ủy quyền ngày 10/11/2025) (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tranh Nguyễn Minh H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: 1 Đường số E, Phường G, quận G (nay thuộc phường A), Thành phố Hồ Chí Minh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Người đại diện ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
Ngày 06/3/2019, nguyên đơn bà Dương Thị Ngọc A và bị đơn Công ty Cổ phần T5 ký hợp đồng cho thuê nhà xưởng với diện tích 256.9 m² tại thửa đất 348-1, 349-1, tờ bản đồ số 7E, địa chỉ: A Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn thuê từ ngày 06/4/2019 đến 06/4/2024, mục đích: nơi sản xuất, chế biến và lưu trữ hàng hóa phù hợp với ngành nghề kinh doanh hợp pháp của bị đơn, giá thuê: 25.000.000 đồng/tháng, sau mỗi 02 năm phí thuê sẽ điều chỉnh với mức tăng 10% phí thuê áp dụng liền kề trước đó. Bị đơn đặt cọc số tiền là 75.000.000 đồng, tiền thuê thanh toán mỗi tháng vào ngày 01-05 tây đầu mỗi tháng, hình thức chuyển tiền thuê: tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Sau khi ký kết hợp đồng thuê, bị đơn bắt đầu dọn vào nhà xưởng để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tầm thời điểm tháng 5/2021, thì bị đơn đã tự dọn hết đồ đạc ra khỏi xưởng mà không có bất kỳ thông báo cho nguyên đơn. Đến khoảng giữa năm 2022, nguyên đơn mới biết việc bị đơn đã dọn đồ ra khỏi khu nhà xưởng. Sau đó, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ, yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán tiền thuê nhà xưởng nhưng không nhận được bất kỳ thái độ hợp tác, thiện chí giải quyết vấn đề từ bị đơn.
Vì vậy, ngày 05/05/2023, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền thuê nhà xưởng tạm tính từ tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 tới nay: 25.000.000 đồng x 1 tháng (tháng 4/2020)+27.500.000 đồng x 22 tháng (từ 6/2021 đến hết tháng 3/2023)= 630.000.000 đồng.
- Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 1%/tháng trên tổng số tiền phải trả, tạm tính tới thời điểm tháng 4/2023, cụ thể như sau:
Tháng 4/2020: 25.000.000 đồng x 1% x 36 tháng = 9.000.000 đồng; Tháng 6/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 22 tháng = 6.050.000 đồng; Tháng 7/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 21 tháng = 5.775.000 đồng; Tháng 8/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 20 tháng = 5.500.000 đồng; Tháng 9/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 19 tháng = 5.225.000 đồng; Tháng 10/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 18 tháng = 4.950.000 đồng; Tháng 11/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 17 tháng = 4.675.000 đồng; Tháng 12/2021: 27.500.000 đồng x 1% x 16 tháng =4.400.000 đồng; Tháng 01/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 15 tháng = 4.125.000 đồng; Tháng 02/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 14 tháng = 3.850.000 đồng; Tháng 3/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 13 tháng = 3.575.000 đồng; Tháng 4/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 12 tháng = 3.300.000 đồng; Tháng 5/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 11 tháng = 3.025.000 đồng; Tháng 6/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 10 tháng = 2.750.000 đồng; Tháng 7/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 9 tháng = 2.475.000 đồng; Tháng 8/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 8 tháng = 2.200.000 đồng; Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 7 tháng = 1.925.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 6 tháng = 1.650.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 5 tháng = 1.375.000 đồng; Tháng 12/2022: 7.500.000 đồng x 1% x 4 tháng = 1.100.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 3 tháng = 825.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 2 tháng = 550.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 1 tháng = 275.000 đồng. Tiền thuê nhà: 630.000.000 đồng, lãi chậm trả: 78.575.000 đồng, tổng cộng: 708.575.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn cần phải thanh toán cho nguyên đơn là 708.575.000 đồng (Bảy trăm lẻ tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Nguyên đơn xác định do bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng nên mất tiền cọc là 75.000.000 đồng. Nguyên đơn khẳng định ngoài những yêu cầu phía trên, nguyên đơn không có thêm bất cứ yêu cầu nào khác. Quá trình thực hiện hợp đồng thuê thì ông T2 Nguyễn Minh H là người được sự ủy quyền của bà Dương Thị Ngọc A được quyền quyết định đối với việc ký kết, cho thuê, nhận tiền cọc và quản lý đối với tài sản là nhà xưởng với diện tích 256,9m² tại địa chỉ: T đất số 348-1; 349-1, tờ bản đồ số 7E, địa điểm 176D Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30/9/2024, Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút các yêu cầu khởi kiện sau:
- - Yêu cầu tiền thuê nhà xưởng tạm tính từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2023 là: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 12/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng; Tổng cộng: 192.500.000 đồng.
- - Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 1%/1 tháng trên tổng số tiền phải trả, tạm tính từ tháng 09/2022 đến tháng 3/2023: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 7 tháng = 1.925.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 6 tháng = 1.650.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 5 tháng = 1.375.000 đồng; Tháng 12/2022: 7.500.000 đồng x 1% x 4 tháng = 1.100.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 3 tháng = 825.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 2 tháng = 550.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 1 tháng = 275.000 đồng; Tổng cộng: 7.700.000 đồng.
Thay đổi yêu cầu khởi kiện:
- Giảm giá thuê nhà xưởng buộc Công ty Cổ phần T5 phải trả từ 27.500.000 đồng/tháng xuống còn 25.000.000 đồng/tháng đối với 15 (mười lăm) tháng từ tháng 6/2021 đến hết tháng 08/2022.
- Giảm lãi suất chậm trả từ 1%/tháng còn 10%/12 tháng đối với tiền thuê nhà tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 đến hết tháng 08/2022.
Như vậy, yêu cầu khởi kiện còn lại là:
Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền thuê nhà xưởng tạm tính từ tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 tới hết tháng 08/2022, tương đương 16 tháng tiền thuê nhà (giảm đi 7 tháng so với yêu cầu khởi kiện ban đầu). Số tiền thuê nhà xưởng Công ty Cổ phần T5 còn cần phải thanh toán cho bà Ngọc A là: 25.000.000 đồng x 16 tháng (tháng 4/2020, từ 6/2021 đến hết tháng 08/2022) = 400.000.000 đồng.
Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 10%/12 tháng trên tổng số tiền phải trả, tạm tính tới hết tháng 9/2024 (giảm đi 7 tháng so với yêu cầu khởi kiện ban đầu). Tiền lãi chậm trả mà Công ty Cổ phần T5 còn cần phải thanh toán cho bà Ngọc A là: 111.041.667 đồng, lãi suất 10%/12 tháng. Cụ thể:
Tháng 4/2020: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 53 tháng = 11.041.667 đồng; Tháng 6/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 39 tháng = 8.125.000 đồng; Tháng 7/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 38 tháng = 7.916.667 đồng; Tháng 8/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 37 tháng = 7.708.333 đồng; Tháng 9/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 36 tháng = 7.500.000 đồng; Tháng 10/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 35 tháng = 7.291.667 đồng; Tháng 11/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 34 tháng = 7.083.333 đồng; Tháng 12/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 33 tháng = 6.875.000 đồng; Tháng 01/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 32 tháng = 6.666.667 đồng; Tháng 02/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 31 tháng = 6.458.333 đồng; Tháng 3/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 30 tháng = 6.250.000 đồng; Tháng 4/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 29 tháng = 6.041.667 đồng; Tháng 5/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 28 tháng = 5.833.333 đồng; Tháng 6/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 27 tháng = 5.625.000 đồng; Tháng 7/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 26 tháng = 5.416.667 đồng; Tháng 8/2022: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 25 tháng = 5.208.333 đồng.
Như vậy, tổng tiền thuê nhà xưởng và lãi chậm thanh toán mà Công ty Cổ phần T5 còn cần phải phải thanh toán cho bà Ngọc A là 511.041.667 đồng (Năm trăm mười một triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng), tương đương với việc giảm đi 197.533.333 đồng so với số tiền 708.575.000 đồng của yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, Đại diện theo pháp luật của Bị đơn trình bày:
Ngày 06/03/2019, nguyên đơn do ông Trần Đình T3 là người đại diện pháp luật ký hợp đồng thuê nhà xưởng của bị đơn (không có công chứng), dùng làm xưởng sản xuất. Trong quá trình thuê nhà xưởng, bị đơn sản xuất hàng thực phẩm, nhưng xưởng không có hệ thống nước sạch, không có cống thoát nước, đã làm cho bị đơn gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất. Bị đơn đã phải cải tạo lại nhà xưởng với tổng chi phí là: 430.000.000 đồng (Bao gồm tiền vật liệu và nhân công). Bị đơn vẫn thanh toán tiền thuê hàng tháng đầy đủ đến hết tháng 05/2021. Từ tháng 06/2021 đến tháng 11/2021, do tình hình dịch COVID-19 diễn ra phức tạp, giãn cách xã hội, bị đơn không thể sản xuất, làm ăn, buôn bán được, thời điểm này ông H (người đại diện của bà Ngọc A) đã liên lạc với bị đơn, yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuê xưởng. Bị đơn đề nghị ông H giảm giá tiền mặt bằng xuống còn 50% do bị đơn không thể sản xuất kinh doanh trong thời gian đó. Nhưng ông H không đồng ý, bị đơn có yêu cầu ông H cho gặp và làm việc trực tiếp với chủ nhà là bà Ngọc A để trao đổi về việc giảm giá thuê trong thời gian giãn cách và muốn cải tạo lại đường cống thoát nước. Nhưng ông H có nói, bị đơn chỉ có thể làm việc với ông H và không cho làm việc với chủ nhà. Lúc đó, bị đơn đã nói với ông H nếu không giảm giá thuê thì bị đơn trả lại mặt bằng không thuê nữa. Lúc đó ông H đã đồng ý lấy lại mặt bằng. Bị đơn yêu cầu ông H xuống trực tiếp để bị đơn bàn giao trả mặt bằng nhưng ông H cũng không xuống. Trong suốt quá trình thuê nhà, bị đơn chưa một lần được gặp và làm việc với bà Ngọc A. Mặc dù đã yêu cầu với ông H nhiều lần qua điện thoại, gọi điện vào số điện thoại của bà Ngọc A thể hiện trên hợp đồng cũng không được. Bên ông H và bà Ngọc A đã không hợp tác để hai bên đi đến thỏa thuận, nên bị đơn đã dọn trả mặt bằng và có thông báo cho ông H qua điện thoại, đồng thời bị đơn có dán thông báo về việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng tại địa điểm đó. Theo hợp đồng khi bên thuê không thanh toán tiền trong vòng 2 tháng thì bên cho thuê có quyền chấm dứt hợp đồng thuê và không thanh toán lại số tiền mà bên thuê đã đặt cọc. Bị đơn đã chấp nhận mất khoản tiền đã đặt cọc là: 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) để chấm dứt hợp đồng thuê nhà. Do gọi điện bà Ngọc A không được, hẹn ông H xuống để trả mặt bằng ông H cũng không xuống, dán thông báo cũng không có sự phản hồi. Nên bị đơn không có Biên bản giao trả mặt bằng và thanh lý hợp đồng. Tháng 11/2021, bị đơn đã chấm dứt việc sử dụng miếng đất thuê và chỉ để một số đồ ở lại. Bị đơn chỉ làm việc với ông H và ông Trần Đình T4, mặc dù nhiều lần đề nghị làm việc với bà Ngọc A nhưng không gặp được. Bị đơn chỉ làm việc trực tiếp, không có tài liệu chứng cứ thể hiện.
Khi chuyển giao chức vụ giám đốc, ông Đình T4 thực hiện với danh nghĩa Công ty Cổ phần T5 thì bị đơn đều chấp nhận chịu trách nhiệm. Ông T4 là người trực tiếp là việc với ông H. Ông H là người ký hợp đồng và nhận tiền cọc. Kết quả làm việc trực tiếp là bị đơn có nợ tiền thuê từ tháng 6-11/2021, số tiền còn nợ là 150 triệu đồng, đồng ý trả mặt bằng và chấm dứt hợp đồng. Ông H nói cấn trừ 75 triệu đồng tiền cọc thì yêu cầu bổ sung thêm 75 triệu đồng. Sau đó, ông H có đội tiền thêm, nhưng bị đơn vẫn không làm việc trực tiếp với bà Ngọc A. Trong khi trước đó, bị đơn đã báo với ông H và tất toán hợp đồng. Bị đơn chấp nhận trả tiền thuê tháng 4/2020 và các tháng từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2021, giá thuê 25.000.000 đồng/tháng, tổng cộng 175.000.000 đồng, cấn trừ 75.000.000 đồng tiền cọc, như vậy đồng ý trả thêm 100.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không đồng ý.
Ngày 26/9/2023, bị đơn có yêu cầu phản tố: Buộc bà Dương Thị Ngọc A hoàn trả lại tiền đặt cọc cho Công ty Cổ phần T6 Lasố tiền 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng), theo hợp đồng thuê nhà xưởng trước đây. Đồng thời, bị đơn xác định đã đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê từ tháng 5/2021. Bị đơn thừa nhận còn nợ tiền thuê nhà của tháng 4/2020 là 25.000.000 đồng.
Bị đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tranh Nguyễn Minh H trình bày:
Năm 2019, bà Dương Thị Ngọc A có cho Công ty Cổ phần T5 thuê nhà xưởng toạ lạc tại số A, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Hợp đồng cho thuê nhà xưởng ký ngày 06/03/2019 với thời hạn cho thuê 05 năm. Ông H được bà Ngọc A giao quyền làm việc với bên bị đơn tất cả các vấn đề liên quan tới quản lý việc cho thuê và nhắc bị đơn thanh toán tiền thuê nhà xưởng hàng tháng vào tài khoản ngân hàng cá nhân của bà Ngọc A.
Tháng 04/2020, bị đơn đã lấy lý do tháng đó Công ty phải đóng cửa do ảnh hưởng của dịch COVID-19, không có công nhân ở tại đó nên không đồng ý thanh toán tiền thuê nhà xưởng tháng đó. Tại thời điểm đó, bà Ngọc A cũng không đồng ý với yêu cầu của bị đơn, tuy nhiên, vì bị đơn vẫn có thiện chí tiếp tục hợp đồng thuê nhà xưởng, thế nên nguyên đơn cũng tạm bỏ qua việc tiếp tục yêu cầu thanh toán tiền nhà xưởng tháng đó.
Đến tháng 06/2021, đại diện bị đơn có nhắn tin cho tôi đề nghị nguyên đơn giảm tiền thuê nhà xưởng. Tuy nhiên, nguyên đơn không chấp nhận đề nghị này của bị đơn, vì giá mà bị đơn đề nghị thấp hơn rất nhiều so với giá thuê nhà trong Hợp đồng thuê nhà xưởng. Ngoài nội dung nêu trên, bị đơn không hề để cập đến các chuyện khác. Cuối năm 2021, bị đơn đã tự dọn hết đồ đạc ra khỏi xưởng mà không có bất kỳ thông báo nào cho nguyên đơn. Vì khu nhà xưởng ở địa phương khác xa chỗ nguyên đơn, đồng thời do chấp hành các biện pháp giãn cách xã hội trong thời kỳ dịch COVID-19, nên nguyên đơn không hề hay biết sự việc bị đơn thực hiện việc di dời đồ đạc khỏi khu nhà xưởng. Khoảng đầu năm 2022, khi mà các bên điện, nước gửi yêu cầu thanh toán tiền điện, nước các tháng trong năm 2021, lúc này nguyên đơn mới phát hiện ra bị đơn đã tự ý di dời đồ đạc khỏi khu nhà xưởng. Từ tháng 03/2022, nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ, làm việc với các đại diện của bị đơn để yêu cầu họ tiếp tục hợp đồng thuê nhà xưởng, đồng thời thực hiện thanh toán tiền thuê nhà xưởng cho bà Ngọc A bao gồm tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 trở đi.
Tháng 8/2022, nguyên đơn đã 2 lần gửi thư yêu cầu thanh toán tiền nhà xưởng cho bị đơn và tháng 9/2022 lại gửi thêm một lần thư nữa. Sau khi nhận được các thư nhắc thanh toán tiền thuê nhà xưởng, trong tháng 9 và tháng 10/2022, đại diện của bị đơn đã có 02 lần đến gặp mặt chúng tôi để làm việc. Theo đó, phía bị đơn có thái độ không hợp tác, nhất quyết không chịu thanh toán tiền thuê nhà xưởng còn thiếu, đồng thời thách thức chúng tôi cứ tiến hành kiện bị đơn nếu muốn.
Ông H không có bất kỳ một thoả thuận (bằng lời nói hoặc văn bản) với ông C – đại diện của bị đơn, về việc đồng ý chấm dứt hợp đồng, miễn giảm tiền thuê mặt bằng, trả lại mặt bằng khu nhà xưởng. Kể từ thời điểm đó trở đi, ông H và bị đơn không có thêm bất kỳ trao đổi gì nữa.
Bản án dân sự sơ thẩm số 263/2025/DSST ngày 27/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7), Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 71; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 200; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 264; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 357, Điều 385, Điều 398, Điều 402, Điều 428, Điều 468, Điều 472, Điều 481 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền thuê nhà tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2022 tổng cộng số tiền: 400.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 10%/12 tháng trên tổng số tiền phải trả, tới thời điểm nộp đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 30/09/2024 là: 111.041.667 đồng, tổng cộng: 511.041.667 đồng (Bằng chữ: Năm trăm mười một triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về:
- - Tiền thuê nhà xưởng tạm tính từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2023 là: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 12/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng; Tổng cộng: 192.500.000 đồng.
- - Buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 1%/tháng trên tổng số tiền phải trả, tạm tính tới hết tháng 09/2022 đến tháng 3/2023: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 7 tháng = 1.925.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 6 tháng = 1.650.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 5 tháng = 1.375.000 đồng; Tháng 12/2022: 7.500.000 đồng x 1% x 4 tháng = 1.100.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 3 tháng = 825.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 2 tháng = 550.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 1 tháng = 275.000 đồng; Tổng cộng: 7.700.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Buộc bà Dương Thị Ngọc A hoàn trả lại tiền đặt cọc cho Công ty Cổ phần T6 Latiền 75.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng thuê nhà xưởng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật quy định.
Ngày 27/5/2025, bị đơn Công ty Cổ phần T5 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần T5 trình bày yêu cầu kháng cáo: đề nghị sửa án sơ thẩm đối với số tiền thuê nhà xưởng còn nợ do trước đây ông T2 Nguyễn Minh H đã đồng ý không tính tiền thuê nhà của tháng 4 năm 2020 và việc dừng hợp đồng thuê nhà đã được phía bị đơn thông báo với ông H do từ khi ký kết hợp đồng đến khi chấm dứt đều không tiếp xúc được với bà Ngọc A. Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2021 thì Công ty của bị đơn đã không còn hoạt động và do dịch C1 xảy ra nên một số hàng hóa và dụng cụ đông lạnh vẫn còn kẹt lại, đến cuối năm 2021 bị đơn đã dọn đi toàn bộ. Án sơ thẩm vẫn buộc bị đơn trả tiền thuê đến năm 2022 là không chính xác.
Đồng thời yêu cầu tuyên nguyên đơn trả lại khoản tiền cọc do ảnh hưởng của dịch bệnh cùng với việc phía nguyên đơn không đáp ứng các điều kiện về hệ thống xả thải, về nguồn điện như đề đạt của bị đơn nên bị đơn đã chấm dứt hợp đồng trước hạn thông qua các thông tin trao đổi với ông H.
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: theo hợp đồng cho thuê nhà xưởng đã ký, bà Dương Thị Ngọc A đã nhận tiền cọc thông qua ông T2 Nguyễn Minh H và ông H là người có quyền trực tiếp tiếp xúc với bị đơn do bà bận việc riêng, tiền thuê nhà xưởng hàng tháng bị đơn chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của bà Ngọc A nhưng việc bị đơn có yêu cầu giảm tiền thuê, thông báo chấm dứt hợp đồng trước thời hạn bà đều không hay biết. Phía bị đơn không có văn bản nào về việc này. Vào tháng 8 năm 2022 bà Ngọc A đã có văn bản nhắc trả tiền thuê còn nợ gửi cho bị đơn nhưng không nhận được phản hồi. Nay nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn.
Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm do căn cứ Mục 4.2.1 Điều 4; khoản 2 Điều 6 và điểm b khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng thuê nhà xưởng thì bị đơn đã chấm dứt hợp đồng trước hạn mà không đảm bảo các quy định này của hợp đồng, tự động dọn đi mà không thông báo nên phải mất tiền cọc và phải thanh toán tiền thuê còn nợ như bản án đã tuyên. Việc bị đơn cho rằng đã có thông báo về thời điểm chấm dứt hợp đồng với ông H thì không có văn bản nào được gửi đến trong khi ông H xác định bị đơn chỉ nhắn tin xin giảm tiền thuê hàng tháng chứ không có nội dung nào về chấm dứt hợp đồng, nên không có chứng cứ chứng minh như quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, buộc bị đơn trả tiền thuê nhà xưởng còn nợ của các tháng: tháng 4 năm 2020 và từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 11 năm 2021 do căn cứ các chứng cứ đã thu thập và tại phiên tòa nguyên đơn đã thừa nhận ông T2 Nguyễn Minh H là người thay mặt bà Ngọc A tiếp xúc với bị đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng, thời điểm ông H biết bị đơn dọn đi vào cuối tháng 11 năm 2021 nhưng không thông báo cho bà Ngọc A, án sơ thẩm chấp nhận tính tiền thuê đối với bị đơn đến tháng 8 năm 2022 là không đúng thực tế.
Đối với khoản tiền cọc: do bị đơn vi phạm nghĩa vụ khi chấm dứt hợp đồng trước hạn nên phải mất cọc là đúng theo hợp đồng đã ký và quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến và nghe đại diện Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thời hạn kháng cáo: Tòa án nhân dân quận Gò Vấp (nay thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7) ban hành Bản án số 263/2025/DSST ngày 27/5/2025. Ngày 27/5/2025, bị đơn Công ty Cổ phần T5 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Do đó, kháng cáo của Công ty Cổ phần T5 còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ các thủ tục thu thập, công khai chứng cứ, hòa giải và tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho các đương sự; xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền xét xử.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử có vi phạm, thủ tục hoãn phiên tòa còn chưa đảm bảo do hoãn quá nhiều lần.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà Dương Thị Ngọc A khởi kiện cho rằng Công ty Cổ phần T5 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nhà xưởng theo hợp đồng đã ký kết ngày 06/3/2019.
Xét nguyên đơn và bị đơn ký Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng nhà xưởng có diện tích 256,9m2 thuộc thửa đất số 348-1, 349-1, tờ bản đồ số 7E tại địa chỉ: A Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với thời hạn thuê từ ngày 06/4/2019 đến 06/4/2024, giá thuê: 25.000.000 đồng/tháng, sau mỗi 02 năm phí thuê sẽ điều chỉnh với mức tăng 10% phí thuê áp dụng liền kề trước đó. Bị đơn đặt cọc số tiền là 75.000.000 đồng và đã thanh toán tiền thuê đến tháng 3/2021 thì ngưng thanh toán và không thông báo cho bà Ngọc A, bà yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần T5 thanh toán tiền thuê nhà các tháng 4/2020, từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2022 và tiền lãi chậm thanh toán tính đến tháng 9/2024 với lãi suất 10%/năm tổng cộng là 708.575.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn thanh toán tiền thuê nhà xưởng còn nợ của tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2022 là 16 tháng x 25.000.000 đồng là 400.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả là 10%/tháng tương đương 111.041.666 đồng. Tổng cộng là 511.041.667 đồng.
Xét chứng cứ đã thu thập và trình bày của nguyên đơn, bị đơn và ông Tranh Nguyễn Minh H thể hiện quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Cổ phần T5 đã đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không thông báo trước theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng nên phải chịu trách nhiệm thanh toán và mất cọc do vi phạm hợp đồng.
Về thời điểm kết thúc hợp đồng theo bị đơn trình bày đã trao đổi về việc kết thúc hợp đồng thuê với nguyên đơn (thông qua ông H) từ tháng 5/2021 và trả nhà xưởng từ thời gian trên nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Ông H thừa nhận vào tháng 5/2021 ông C có nhắn tin xin giảm tiền thuê chứ không xin dừng hợp đồng như ông C trình bày. Tại bản cung cấp lời khai của ông H (BL 112) có nội dung: “cuối năm 2021, Công ty T5 đã tự dọn hết đồ đạc ra khỏi xưởng mà không có bất kỳ thông báo nào cho bà Ngọc A...”. Điều này trùng hợp với kết quả xác minh với Công an và Ủy ban nhân dân phường T nơi có nhà xưởng mà bị đơn đang sử dụng với nội dung: thời điểm năm 2022 không có doanh nghiệp nào hoạt động tại đây. Từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2021 bị đơn vẫn để các tủ đông lạnh bảo quản thực phẩm tại nhà xưởng, tại phiên tòa sơ thẩm, cả nguyên đơn, bị đơn và ông H đều xác định cuối tháng 11/2021 bị đơn đã dọn hết đồ đạc ra khỏi nhà xưởng. Do vậy, có căn cứ để xác định thời điểm kết thúc hợp đồng là tháng 11/2021.
Án sơ thẩm xác định bị đơn còn nợ tiền thuê nhà xưởng tháng 4/2020 là đúng, nhưng buộc bị đơn thanh toán tiền thuê còn nợ và buộc bị đơn chịu lãi chậm thanh toán từ tháng 6/2021 đến tháng 8/2022 là chưa chính xác.
[2.2] Về nội dung kháng cáo:
Bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, các bên trình bày thống nhất ở chi tiết bà Ngọc A giao ông Tranh Nguyễn Minh H tiếp xúc với bị đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn chuyển khoản tiền thuê hàng tháng vào tài khoản cá nhân của bà A nên việc chấm dứt hợp đồng bị đơn trao đổi với ông H là đã thực hiện thông báo hợp lệ. Về nguyên nhân chấm dứt chưa có căn cứ nên lỗi mất cọc như án sơ thẩm đã đánh giá là đúng.
Tuy nhiên, bản án sơ thẩm đánh giá chứng cứ về thời điểm kết thúc hợp đồng thuê còn có phần chưa chính xác nên kháng cáo của bị đơn có cơ sở để chấp nhận một phần. Như phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất sửa bản án sơ thẩm. Buộc bị đơn thanh toán tiền thuê còn nợ gồm tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2021 là 175.000.000 đồng; tiền lãi chậm thanh toán được tính đến thời điểm sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện 30/ 9/2024 là:
Tháng 4/2020: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 53 tháng = 11.041.667 đồng; Tháng 6/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 39 tháng = 8.125.000 đồng; Tháng 7/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 38 tháng = 7.916.667 đồng; Tháng 8/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 37 tháng = 7.708.333 đồng; Tháng 9/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 36 tháng = 7.500.000 đồng; Tháng 10/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 35 tháng = 7.291.667 đồng; Tháng 11/2021: 25.000.000 đồng x 10%/12 tháng x 34 tháng = 7.083.333 đồng. Tổng cộng tiền lãi là 63.541.667 đồng.
Các phần khác của án sơ thẩm được giữ nguyên.
Về án phí: do sửa án sơ thẩm nên án phí dân sự sơ thẩm được sửa tương ứng với khoản tiền bị đơn phải thanh toán và án phí trên số tiền yêu cầu phản tố không được chấp nhận.
Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 148; khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền thuê nhà tháng 4/2020 và từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2021 tổng cộng số tiền: 175.000.000 đồng (Bằng chữ: một trăm bảy mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 10%/12 tháng trên tổng số tiền phải trả, tới thời điểm nộp đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện ngày 30/09/2024 là: 63.541.667 đồng, tổng cộng: 238.541.667 đồng (Bằng chữ: hai trăm ba mươi tám triệu, năm trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về:
- - Tiền thuê nhà xưởng tạm tính từ tháng 9/2022 đến tháng 3/2023 là: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 12/2022: 27.500.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng; Tổng cộng: 192.500.000 đồng.
- - Buộc Công ty cổ phần T5 thanh toán tiền lãi chậm thanh toán tiền thuê nhà xưởng với lãi suất chậm thanh toán là 1%/tháng trên tổng số tiền phải trả, tạm tính tới hết tháng 09/2022 đến tháng 3/2023: Tháng 9/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 7 tháng = 1.925.000 đồng; Tháng 10/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 6 tháng = 1.650.000 đồng; Tháng 11/2022: 27.500.000 đồng x 1% x 5 tháng = 1.375.000 đồng; Tháng 12/2022: 7.500.000 đồng x 1% x 4 tháng = 1.100.000 đồng; Tháng 01/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 3 tháng = 825.000 đồng; Tháng 02/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 2 tháng = 550.000 đồng; Tháng 3/2023: 27.500.000 đồng x 1% x 1 tháng = 275.000 đồng; Tổng cộng: 7.700.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Buộc bà Dương Thị Ngọc A hoàn trả lại tiền đặt cọc cho Công ty Cổ phần T6 Latiền 75.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng thuê nhà xưởng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- 4.1. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp là: 16.171.500 đồng (Bằng chữ: Mười sáu triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0011615 ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 4.2. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 15.677.083 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu, sáu trăm bảy mươi bảy nghìn, không trăm tám mươi ba đồng) nhưng được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí mà bị đơn đã nộp là : 1.875.000 đồng (Bằng chữ: Một triệu, tám trăm, bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0013001 ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, còn lại án phí bị đơn phải nộp là: 13.802.083 đồng (Bằng chữ: Mười ba triệu, tám trăm lẻ hai nghìn, không trăm tám mươi ba đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho Công ty Cổ phần T6 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000173 ngày 11/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thụy Vũ |
Bản án số 1419/2025/DS-PT ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê nhà
- Số bản án: 1419/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà
