|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 141/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26 - 4 - 2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Bà Nguyễn Thị Quế Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An không tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc H, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Herzberg S B, Cộng hoà liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Trâm A, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ cư trú hiện nay: Elsen S B, Cộng hoà liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Vương B, sinh năm 1971 và bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1972; cùng địa chỉ: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Phạm Ngọc H trình bày:
Anh và chị Lê Trâm A kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 13/4/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Tháng 6/2023 anh đi xuất khẩu lao động tại Hungary, đến tháng 11/2023 chị Trâm A cũng đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Từ khi sang Hungary lao động vợ chồng không sống chung cùng nhau, cũng không quan tâm lẫn nhau. Hiện nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh V đơn này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Trâm A.
Về con chung: Anh và chị Lê Trâm A có 02 con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 18/01/2017 và Phạm Anh T, sinh ngày 22/10/2018. Hiện nay cháu N và cháu T đang ở cùng với ông bà nội là ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 trú tại khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vì điều kiện công việc và thu nhập của anh không ổn định nên vợ chồng anh thống nhất khi ly hôn cháu Phạm Quang N và Phạm Anh T sẽ giao cho chị Lê Trâm A chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chúng anh tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Phạm Ngọc H hiện đang cư trú tại Cộng hòa liên bang Đ chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, anh ủy quyền cho ông Phạm Vương B, địa chỉ cư trú: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu, tạm ứng án phí và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, anh đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị vắng mặt bị đơn chị Lê Trâm A trình bày:
Chị và anh Phạm Ngọc H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An vào ngày 13/4/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Tháng 6/2023 anh H đi xuất khẩu lao động tại Hungary, đến tháng 11/2023 thì chị cũng đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Từ khi sang Hungary lao động vợ chồng không sống chung cùng nhau, cũng không quan tâm lẫn nhau. Hiện nay, anh H đang làm thủ tục ly hôn với chị tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì chị cũng đồng ý ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị và anh Phạm Ngọc H có 02 con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 18/01/2017 và Phạm Anh T, sinh ngày 22/10/2018. Hiện nay cháu N và cháu T đang ở cùng với ông bà nội là ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 trú tại khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Do điều kiện công việc và thu nhập của anh Phạm Ngọc H không ổn định, nên chúng chị thống nhất khi vợ chồng ly hôn cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T sẽ giao cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chúng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong thời gian chị đang lao động tại Hungary để cuộc sống của cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T không bị xáo trộn thì chị tiếp tục nhờ ông bà nội của cháu N, cháu T là ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 quản lý và chăm sóc và nuôi dưỡng cháu N, cháu T cho đến khi chị trở về Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Trâm A hiện đang cư trú tại Cộng hòa liên bang Đ chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho chị Lê Hải Y, địa chỉ cư trú: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An nộp bản tự khai, giấy ủy quyền, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 trình bày:
Ông B, bà H1 là bố mẹ đẻ của anh Phạm Ngọc H, chị Lê Trâm A là con dâu của ông B, bà H1. Anh H và chị Trâm A có địa chỉ cư trú tại Cộng hòa liên bang Đ, nhưng hiện nay lao động tại Hungary. Anh H và chị Trâm A kết hôn với nhau năm 2016, anh H và chị Trâm A có 02 người con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 18/01/2017 và Phạm Anh T, sinh ngày 22/10/2018. Tháng 6/2023 anh H đi xuất khẩu lao động tại Hungary, đến tháng 11/2023 chị Trâm A cũng đi xuất khẩu lao động tại Hungary. Từ khi anh H và chị Trâm A đi xuất khẩu lao động thì cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T sống cùng vợ chồng ông B, bà Hiền từ tháng 06/2023 cho đến nay. Nay anh H và chị Trâm A ly hôn mà Tòa án giao cháu N, cháu T cho chị Trâm A chăm sóc nuôi dưỡng, vì điều kiện chị Trâm A đang ở Hungary không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N, cháu T thì chị Trâm A có nhờ vợ chồng tôi chăm sóc và nuôi dưỡng cháu N và cháu T thì vợ chồng tôi đồng ý. Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và cháu Thư từ trước đến này và cả sau này thì vợ chồng tôi không yêu cầu anh H và chị Trâm A phải thanh toán cho vợ chồng tôi. Khi nào chị Trâm A trở về Việt Nam thì vợ chồng tôi sẽ giao lại cháu N và cháu T cho chị Trâm A.
Vì điều kiện công việc không thể sắp được thời gian đến Tòa án để làm việc. Vì vậy, ông B, bà H1 xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và các phiên tòa mà Tòa án mở để xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A hiện đang cư trú tại Cộng hòa liên bang Đ, trước khi xuất cảnh anh H và chị Trâm A có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vụ án ly hôn, không có tranh chấp về con chung, tài sản chung và Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Phạm Ngọc H, chị Lê Trâm A hiện đang ở Cộng hòa liên bang Đức, các văn bản tố tụng của nguyên đơn, bị đơn nộp tại Tòa án như đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xử vắng mặt, giấy ủy quyền đều có xác nhận của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ chứng thực. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Phạm Ngọc H, chị Lê Trâm A, ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A là hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, hiện nay anh H và chị Trâm A đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đức, nhưng không sống cùng với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Cả hai bên đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nên mong muốn ly hôn. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Phạm Ngọc H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
[3] Về con chung: Anh Phạm Ngọc H và chị Lê T1 có 02 con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 18/01/2017 và Phạm Anh T, sinh ngày 22/10/2018. Hiện tại cháu N và cháu T đang ở với ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 và được ông B, bà H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A đều có nguyện vọng giao cho chị Trâm A được quyền trực tiếp nuôi con chung. Xét nguyện vọng của hai bên là chính đáng cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị Lê Trâm A đang ở nước ngoài nên ông Phạm Vương B và bà Phạm Thị Thu H1 nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T chu đáo cho đến khi chị Trâm A về Việt Nam.
Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và cháu T: Ông Phạm Vương B, bà Phạm Thị Thu H1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Tòa án không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Phạm Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; Điều 478; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc H.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A được ly hôn.
-
Về con chung: Giao cho chị Lê Trâm A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 18/01/2017 và Phạm Anh T, sinh ngày 22/10/2018 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A chưa yêu cầu nên Tòa án giải quyết.
Do chị Trâm A đang ở nước ngoài nên ông Phạm Vương B, bà Phạm Thị Thu H1 nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T chu đáo cho đến khi chị Trâm A về Việt Nam.
Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Quang N và cháu Phạm Anh T: Ông Phạm Vương B, bà Phạm Thị Thu H1 không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Ngọc H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Ngọc H và chị Lê Trâm A không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
- Về án phí: Anh Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012736 ngày 20/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Phạm Ngọc H đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Vương B, bà Phạm Thị Thu H1 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Anh Phạm Ngọc H, chị Lê Trâm A có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 141/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 141/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly Hôn giữa H và A
